1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

1.1. Điều kiện tự nhiên

a) Vị trí địa lý

   Huyện Kiến Xương nằm ở phía nam của tỉnh Thái Bình. phía tây giáp huyện Vũ Thư và thành phố Thái Bình, phía tây bắc giáp huyện Đông Hưng, phía đông bắc giáp huyện Thái Thụy, phía đông giáp huyện Tiền Hải, phía nam giáp tỉnh Nam Định (ranh giới là sông Hồng). Trong nội huyện sông ngòi chằng chịt, chính giữa huyện là sông Kiến Giang, vị trí của huyện được đánh giá là tương đối thuận tiện cho việc giao lưu kinh tế, văn hoá - xã hội với các huyện trong tỉnh và các tỉnh, thành phố trong cả nước.

b) Địa hình, thổ nhưỡng

Kiến Xương có địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1%; cao trình phổ biến từ 1-2m so với mực nước biển, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam; vì vậy, huyện có đặc điểm chung của đồng bằng châu thổ, đồng thời có những nét riêng về địa hình của huyện với những vùng trũng xen kẹp. Nhìn chung đất Kiến Xương được bồi đắp từ phù sa của các dòng sông lớn: Sông Hồng, sông Trà Lý, trong đó vai trò bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng là chủ yếu. Quá trình bồi tụ diễn ra liên tục và từ từ, trải qua thời gian dài (hàng nghìn năm), kết hợp với gió bão, sóng biển, diễn biến thủy triều của biển Đông, nên ở đây địa hình thấp, bằng phẳng. Song hành với thời gian diễn ra sự bồi tụ của tự nhiên còn phải kể đến trí tuệ và sức lao động của con người sống trên mảnh đất này. Họ đã chống chọi với thiên nhiên (bão tố, ngập lụt, hạn hán…), cải tạo đất đai, san gò, lấp trũng để có được những cánh đồng bằng phẳng và quanh năm tươi tốt như ngày hôm nay.

Phần đất phía Nam gồm 8 xã (trong đó có 6 xã nằm ven sông Hồng với nhiều hồ đầm để phát triển chăn nuôi thủy sản quy mô lớn). Phần đất phía Bắc huyện gồm 20 xã. Huyện có 31,35 km đê trung ương nằm trên địa bàn huyện do tỉnh quản lý (trong đó có 13,9 km đê cấp II; 14,75km đê cấp I; 2,7 km đê cửa sông) và 16,15 km đê bối vừa có tác dụng phòng chống thiên tai, ngập lụt đồng thời kết hợp là tuyến giao thông và phục vụ đời sống dân sinh; người dân Kiến Xương đã biết huy động trí tuệ, sức lực của mình đắp đê sông; cải tạo đồng ruộng, san ghềnh, lấp trũng, đào các hệ thống kênh mương chống úng ngập, tưới tiêu, dùng các biện pháp thủy lợi để thau chua, rửa mặn, biến các vùng đất mới được bồi đắp thành đồng ruộng màu mỡ, làng xóm xanh tươi.

Diện tích đất tự nhiên của huyện Kiến Xương là 202km2, vào loại trung bình so với các huyện trong tỉnh.

Về tổng thể, Kiến Xương bao gồm các cánh đồng bằng phẳng, xen kẽ các khu dân cư, độ cao trung bình của tỉnh không quá 3m so với mực nước biển. Các độ cao trên 3m được thiết lập là do con người tạo nên bởi việc đắp đê ngăn nước của các con sông lớn như: sông Hồng, sông Trà Lý. Phần nội đồng có diện tích lớn tương đối bằng phẳng. Độ cao của các vùng trong huyện cũng có sự chênh lệch tuy không lớn, song nó quyết định việc trồng cấy, việc xây dựng công trình, đường xá, nhà cửa và các công trình dân dụng khác. Trong lĩnh vực thủy lợi, dựa vào sự chênh lệch về độ cao của các vùng để tính toán xây dựng các công trình tưới tiêu hợp lý và khoa học. Cùng với chất đất, độ cao của từng vùng cũng quyết định đến hướng canh tác của từng đối tượng cây trồng (cây lúa nước hay trồng màu).

c) Khí hậu

Khí hậu huyện Kiến Xương mang tính chất cơ bản là nhiệt đới ẩm gió mùa. Kiến Xương có nhiệt độ trung bình 23º-24ºC, tổng nhiệt độ hoạt động trong năm đạt 8400-8500ºC, số giờ nắng từ 1600-1800h, tổng lượng mưa trong năm 1700-2200mm, độ ẩm không khí từ 80-90%. Gió mùa mang đến cho Kiến Xương một mùa đông lạnh, mưa ít; một mùa hạ nóng mưa nhiều và hai thời kỳ chuyển tiếp ngắn. Là huyện đồng bằng nằm gần biển, khí hậu Kiến Xương được điều hòa bởi hơi ẩm từ vịnh Bắc Bộ. Gió mùa đông bắc qua vịnh Bắc Bộ tràn vào làm tăng độ ẩm so với những nơi khác nằm xa biển. Vùng áp thấp trên đồng bằng Bắc Bộ về mùa hè hút gió biển vào làm bớt tính khô nóng ở Kiến Xương.

d) Tài nguyên

* Tài nguyên nước

Nguồn nước mặt: Huyện Kiến Xương có 32 tuyến sông trục chính nằm trong hệ thống do nhà nước quản lý với chiều dài 214,05 km và 296 tuyến sông trục do địa phương quản lý dài 357,1 km đảm bảo nguồn nước dồi dào.  Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, nước tham gia vào quá trình hoạt động sống của giới động, thực vật và con người, quyết định sức khỏe cộng đồng, năng suất mùa màng.

Tài nguyên nước trong dòng chảy mặt ở Kiến Xương rất phong phú. Mật độ sông ngòi dày đặc chứa và lưu thông một lượng nước mặt khổng lồ. Nguồn cung cấp hàng tỷ m3 từ các con sông lớn như sông Hồng, sông Trà Lý, cộng vào đó là lượng nước mưa nhận được hàng năm cũng rất lớn.

Trên hệ thống đê sông lớn có rất nhiều cống lấy nước từ các con sông tưới cho đồng ruộng, nguồn nước lấy từ sông Hồng, sông Trà Lý..., đem lại nguồn nước tưới cho đồng ruộng và cung cấp một lượng phù sa đáng kể, giúp cho đồng ruộng của Kiến Xương ngày càng thêm màu mỡ. Dòng chảy mặt của các con sông nội đồng ngoài tác dụng tưới, tiêu cho đồng ruộng, phục vụ sinh hoạt của cư dân, còn mang theo các chất thải ở thể lỏng chảy ra biển Đông (nước thải sinh hoạt, nước thau chua, rửa mặn đồng ruộng).

Nguồn nước ngầm: Như trên đã cho thấy, tài nguyên nước ngầm tầng mặt và tầng sâu của Kiến Xương tương đối phong phú, song đa phần không thể sử dụng ngay được cho sinh hoạt.

Nước ngầm tầng mặt của Kiến Xương về mùa khô chỉ đào sâu xuống 1-1,5m, mùa mưa chỉ đào sâu chưa đến 1m. Tuy nhiên, đây chỉ là nước ngầm trên mặt, nếu đào sâu xuống sẽ gặp nước mặn và chua, độ trong không đảm bảo, không thể dùng trong sinh hoạt ngay được mà cần phải xử lý.

* Tài nguyên đất

 Theo số liệu của Cục Thống kê năm 2021, diện tích đất tự nhiên của Kiến Xương là 202.000 ha, đất nông nghiệp là 29252,16 ha chiếm 58,9% diện tích đất tự nhiên của huyện.

Đất đai Kiến Xương được hình thành về cơ bản là do sự bồi đắp phù sa của hệ thống sông lớn: Sông Hồng, sông Trà Lý (1 chỉ lưu của sông Hồng). Sự bồi tụ được tiến hành từ từ trong thời gian dài, tạo ra một châu thổ khá bằng phẳng, độ cao trên dưới 2m so với mực nước biển. Đất là tổng hợp các yếu tố tự nhiên: Địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, các loài sinh vật (thực vật) và có sự tác động tích cực của con người. Đất Kiến Xương được tạo thành từ các trầm tích phù sa cổ, phù sa mới và xác các loài thực vật trôi dạt từ thượng nguồn về, cây cối mọc lên hình thành sự trao đổi chất hai chiều giữa cây và đất. Đất cung cấp cho cây nguồn dinh dưỡng khoáng, cây sau một thời gian sinh trưởng, chu kỳ sống thì trả lại cho đất xác của chúng, làm cho đất ngày càng màu mỡ.

Trong quá trình bồi tụ, tuy nói là địa hình Kiến Xương bằng phẳng, song thực vật phù sa bồi tụ tạo nên địa hình chỗ cao, chỗ thấp khác nhau, sự chênh lệch độ cao của các vùng không lớn. Các vùng có độ cao từ 0,3m hoặc thấp hơn đã hình thành các vùng ngập nước quanh năm, những vùng này đất bị yếm khí. Các khoáng chất có trong đất: Fe, Mg bị khử ôxy, tan và chảy theo dòng nước rồi tụ lại thành tầng gley trong đất. Diện tích này chiếm tỷ lệ không nhiều.

Vùng đất ven cửa sông lớn chịu tác động của thủy triều, nước mặn thường thâm nhập vào đất liền thông qua các cửa sông, cửa cống tiêu nước, làm cho đất bị nhiễm mặn. Nếu đào sâu xuống khoảng 1-3m, thường gặp nước hơi mặn (nước lợ).

Quy luật bồi đắp và tác động của con người làm cho đất Kiến Xương phân hóa ra các loại sau:

Đất nhiễm mặn: Có diện tích khá lớn (chiếm khoảng 10% diện tích toàn huyện). Đất này có ở các xã gần cửa sông lớn. Đó là loại đất trước kia cũng bị nhiễm mặn nhưng do quá trình canh tác, cải tạo lâu ngày, độ mặn giảm. Hơn nữa, biển lùi xa dần nên sức thẩm thấu của nước biển yếu đi, các mạch nước ngầm từ phía đất liền đẩy nước mặn do quá trình bồi đắp còn tồn đọng ra phía biển làm cho độ mặn giảm đáng kể.

Đất ven đê: Đây là loại đất phù sa được bồi đắp hàng năm, nằm dọc các xã ven sông Hồng, sông Trà Lý. Loại đất này có diện tích rộng lớn, phân bố không liên tục, tùy thuộc vào hướng dòng chảy của sông. Đất có độ kiềm yếu, có khoảng 10%. Ngoài đất ven các con sông lớn, Kiến Xương còn có đất cát sa bồi ngoài sông, hình thành nên các bãi trên sông, thường bị ngập trong mùa lũ và nổi lên trong mùa cạn. Diện tích loại đất bãi này có thể thay đổi hàng năm, có nơi bị dòng chảy của sông xói vào gây lở đất. Đất có thành phần cơ giới nhẹ (cát và cát pha), có độ PH trung bình.

Đất nội đồng không nhiễm mặn:  Đây là đất phù sa không được bồi đắp hàng năm, bị biến đổi do quá trình canh tác. Tùy theo sự cao thấp và quá trình khai thác mà mức độ biến đổi của đất khác nhau. Nhìn chung đất được sử dụng chủ yếu để trồng lúa, nên thường xuyên có mức độ gley từ yếu đến mạnh.

Loại đất trên thường có ở vùng thấp hoặc ở vùng cao bị rửa trôi. Tầng phù sa mỏng thường là 40-60cm. Phía dưới là cát, xen lẫn xác sú vẹt. Sự phân giải xác thực vật tạo thành acid hữu cơ làm cho đất chua. Độ chua càng xuống sâu càng giảm. Nguyên nhân nữa làm cho đất chua là quá trình canh tác không hợp lý, đất bị xói mòn, rửa trôi.

Công tác quản lý Nhà nước về đất đai của huyện được thực hiện khá tốt, quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2015-2020) cấp huyện và cấp xã đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Toàn huyện đã thực hiện chuyển đổi 62,94 ha trong đó chuyển sang cây hàng năm: 29,26 ha, chuyển sang cây lâu năm 19,65 ha, chuyển sang cấy lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản 14,03ha. Công tác quy hoạch, sử dụng quỹ đất để xây dựng khu đô thị, dân cư, sử dụng quỹ đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng được thực hiện đúng kế hoạch, đảm bảo phù hợp với các quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt, đáp ứng được yêu cầu thực tế về nhà ở và xây dựng hệ thống hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống của nhân dân trong huyện.

* Tài nguyên du lịch và nhân văn

 Huyện có nhiều tiềm năng để phát triển các loại hình du lịch Lễ hội, với tài nguyên du lịch tương đối độc đáo đa dạng, trong đó nổi bật là lễ hội Đồng Xâm xã Hồng Thái gắn với du lịch làng nghệ chạm bạc truyền thống, lễ hội Đình làng Lại Trì xã Vũ Tây, lễ hội đền Vua Rộc xã Vũ An; Lễ Hội đền Phan Bá Vành…, Ngoài ra huyện còn có 87 di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng.

1.2. Điều kiện kinh tế - Văn hóa xã hội

*Kinh tế

Bước vào thời kỳ đổi mới, kinh tế huyện Kiến Xương có điều kiện để tăng trưởng và phát triển, những năm gần đây tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân tăng khoảng trên 10,5%/năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng Công nghiệp, Tiểu thủ công nghiệp, Thương mại và Dịch vụ.

Kinh tế tư nhân được khuyến khích, tạo điều kiện phát triển số lượng các doanh nghiệp tăng đều qua các năm, đến nay trên địa bàn huyện có 196/220 doanh nghiệp và hợp tác xã hoạt động khá tốt đã huy động và sử dụng được các nguồn lực tại địa phương; linh hoạt sử dụng lao động tại chỗ, lao động nông nghiệp dôi dư mùa vụ để tạo thêm thu nhập cho người lao động tại các vùng nông thôn. Nhiều doanh nghiệp đã nghiên cứu và đầu tư vào những sản phẩm mới có hiệu quả. Sản phẩm của các doanh nghiệp đã đạt tới trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, như các sản phẩm dệt, may, chạm bạc, thủ công mỹ nghệ... Các hoạt động liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp đã được tăng cường. Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng chung của suy thoái kinh tế toàn cầu, nhiều doanh nghiệp đã phải giải thể, dừng, tạm dừng hoạt động, nhưng số lượng không lớn và đang có xu hướng giảm dần qua các năm. Kinh tế tập thể được tạo điều kiện phát triển ổn định. Số lượng hợp tác xã đến nay là 38 hợp tác xã, tăng thêm 01 hợp tác xã so với năm 2010. Các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp cơ bản hoạt động có hiệu quả, đã cung ứng kịp thời các loại vật tư nông nghiệp như: giống cây trồng, phân bón, thuốc trừ sâu... phục vụ kịp thời nhu cầu sản xuất của nông dân, góp phần hạn chế các loại vật tư nông nghiệp kém chất lượng trên thị trường. Tại một số địa phương như: Thanh Tân, Bình Định, Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp mua sắm máy móc phục vụ khâu làm đất và thu hoạch lúa góp phần quan trọng vào việc đảm bảo thời vụ và giảm chi phí lao động cho nông dân.

Trong phát triển nông nghiệp, huyện tập trung chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế làm tăng giá trị trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao đời sống của những người sản xuất và có thu nhập từ nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp phát triển trên tất cả các lĩnh vực; quy mô, chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp từng bước đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa quy mô lớn; giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản năm 2021 đạt 2.933,0 tỷ đồng, tăng 2,64% so với năm 2020; Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, mùa vụ có nhiều tiến bộ, diện tích lúa ngắn ngày, lúa chất lượng cao tăng nhanh. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm là 29.252,16 ha tăng 51,67 ha so với cùng kỳ, trong đó: Diện tích trồng lúa đạt 22.241,94 ha; diện tích cây màu đạt 7.010,22 ha (vụ đông năm 2020 là 3.806,52ha) tăng 38,28 ha. Các địa phương tiếp tục đầu tư các mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng cơ giới hóa, khoa học công nghệ vào canh tác, tăng diện tích cấy máy, mở rộng các diện tích tích tụ ruộng đất sản xuất nông nghiệp từ đó góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm diện tích đất lúa bỏ không canh tác. Đến nay toàn huyện có 31/33 xã, thị trấn có các cá nhân, tập thể đứng ra thực hiện tích tụ ruộng đất (bằng các hình thức thuê, mượn, mua) để sản xuất nông nghiệp, với tổng diện tích tích tụ 1.091 ha (tăng 300 ha so với năm 2020).Thực hiện nghiêm Đề án sản xuất nông nghiệp, chủ động phòng trừ sâu bệnh bảo vệ sản xuất, lúa cả hai vụ sinh trưởng và phát triển tốt.

Diện tích cây màu và cây vụ đông được mở rộng, các cây trồng có giá trị kinh tế cao như khoai tây, dưa bí... phát triển mạnh.  Việc quy hoạch, xây dựng vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung được triển khai gắn liền với chương trình xây dựng Nông thôn mới. Nhiều xã đã quy hoạch vùng nông nghiệp sản xuất hàng hóa tập trung chất lượng cao theo đối tượng cây trồng phù hợp với lợi thế của từng địa phương. Cơ giới hóa, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất được đẩy mạnh. Kết quả bước đầu của các mô hình cánh đồng mẫu đã góp phần giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập cho nông dân, hình thành vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn.

Chăn nuôi tiếp tục phát triển theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi trang trại, gia trại quy mô lớn và duy trì chăn nuôi nhỏ lẻ trong các hộ gia đình nông dân; đã nghiên cứu chọn lựa đưa công nghệ tiên tiến và các giống mới có năng suất và chất lượng thịt cao vào sản xuất.  Quy mô đàn vật nuôi tăng so với năm 2020; công tác tiêm phòng vắc xin đạt tỷ lệ cao. UBND huyện tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt các biện pháp phòng, chống bệnh Viêm da nổi cục trâu, bò, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi và bệnh cúm gia cầm A/H5N8 khi bệnh mới phát sinh, không để lây lan ra diện rộng. Trong năm 2021 đã thành lập mới 02 HTX: Hợp tác xã Thương mại Dịch vụ và Kinh doanh lúa gạo Bình Thanh và Hợp tác xã Dịch vụ Thương mại và tiêu thụ sản phẩm xã Bình Định. Huyện có 02 sản phẩm được công nhận OCOP và tiếp tục đăng ký sản phẩm tiềm năng tham gia xây dựng sản phẩm OCOP cho 05 sản phẩm khác.

Nuôi trồng thủy sản và khai thác thủy sản tiếp tục được duy trì và phát triển đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản: 1.265ha, nhân dân tích cực đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào nuôi trồng thủy sản, đối tượng nuôi chủ yếu là các loại thủy sản có giá trị kinh tế cao. Diện tích nuôi trồng thủy hải sản được duy trì;  các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung tại các xã ven sông lớn như: Bình Thanh, Hồng Tiến, Minh Tân, Trà Giang, Quốc Tuấn... phát huy hiệu quả. Huyện khuyến khích phát triển các mô hình nuôi trồng thủy sản đạt hiệu quả kinh tế cao, đồng thời tạo điều kiện cho các hộ ngư dân phát triển các phương tiện đánh bắt xa bờ gắn với đảm bảo quốc phòng an ninh và bảo vệ môi trường biển. Trong huyện có làng chài Cao Bình - Xã Hồng Tiến thực hiện việc khai thác thủy sản ven biển với153 tàu thuyền đánh bắt trên biển. Sản lượng đánh bắt hàng năm đạt trên 1.500 tấn

sản xuất công nghiệp năm 2021 vẫn duy trì tăng trưởng khá. Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 3.702,0 tỷ đồng, tăng 15,11% so với cùng kỳ. Tổng mức các dự án đã đầu tư trên 7 cụm công nghiệp đạt 1658,9 tỷ đồng, thu hút tạo việc làm cho 9.350 lao động, doanh thu giá thực tế ước đạt trên 1.000 tỷ đồng. Các doanh nghiệp tại cụm công nghiệp Vũ Ninh, Vũ Quý, Thanh Tân duy trì sản xuất ổn định. Công tác quản lý an toàn lao động, phòng chống cháy nổ, phòng chống dịch Covid-19 tại các cụm công nghiệp được thực hiện nghiêm túc, không xảy ra các sự cố lớn trong các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp sản xuất ổn định, góp phần vào việc phát triển kinh tế của địa phương.

Nghề, làng nghề tiếp tục được mở rộng và phát triển. Hiện tại huyện có 24 làng nghề hoạt động có hiệu quả; có 14.419 cơ sở và hộ gia đình tham gia sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp với trên 27.803 lao động có thu nhập ổn định. Các nghề truyền thống lâu đời của huyện như chạm bạc, mây tre đan, thảm len, đệm cói mở rộng tiêu thụ trên thị trường quốc tế. Hàng năm tỉnh và huyện đều hỗ trợ nguồn vốn cho các doanh nghiệp từ nguồn vốn khuyến công của tỉnh và huyện để đào tạo nghề cho người lao động, nguồn vốn này đã được các doanh nghiệp sử dụng hiệu quả.

Do tác động của dịch Covid-19, chuỗi cung ứng hàng hóa bị gián đoạn nên hầu hết các ngành dịch vụ bị ảnh hưởng. Giá trị sản xuất thương mại dịch vụ năm 2021 đạt 2.685tỷ đồng, tăng 2,87 % so với cùng kỳ, đạt 98,42% kế hoạch. Việc lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ duy trì tăng trưởng, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 52 triệu USD. Thị trường xuất khẩu tiếp tục được giữ vững, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng dệt may, chạm bạc và một số mặt hàng thủ công khác. Hoạt động xúc tiến thương mại được đẩy mạnh; tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp của huyện tham gia các hội chợ trong và ngoài tỉnh.

Công tác quản lý tài chính và thu chi ngân sách được quan tâm chỉ đạo, đảm bảo đúng quy định; cấp phát đầy đủ kịp thời kinh phí để các cấp, các ngành thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và các chính sách an sinh xã hội. Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2021 ước thực hiện 1.202,8 tỷ đồng, đạt 140% so với dự toán năm, trong đó thu trên địa bàn ước thực hiện 299,9 tỷ đồng, đạt 125% so với dự toán. Tổng chi ngân sách năm 2021 ước thực hiện 994,9 tỷ đồng, đạt 140% so với dự toán, chi ngân sách cấp huyện ước thực hiện 732,6 tỷ đồng, đạt 139% so với dự toán năm. Hoạt động tín dụng ngân hàng đáp ứng cơ bản nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và hộ nông dân.

* Văn hóa - xã hội

 Ngành giáo dục hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn năm học 2020-2021 gắn với việc phòng, chống dịch Covid-19. Tổ chức khai giảng và triển khai kế hoạch giảng dạy năm học mới 2021-2022 đảm bảo chất lượng, an toàn và đúng quy định về phòng, chống dịch bệnh. Quy mô giáo dục và đào tạo đảm bảo tính ổn định; chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp học được nâng lên; công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống được quan tâm đúng mức; việc đổi mới công tác quản lý giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh. Triển khai kế hoạch thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên được đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác quản lý và chuyên môn của các nhà trường tiếp tục được quan tâm, đầu tư tăng cường... Công tác xã hội hoá giáo dục ngày càng được đẩy mạnh. Nền nếp kỷ cương ở các nhà trường trong toàn huyện tiếp tục được củng cố, giữ vững. Việc đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và giảng dạy, dạy học trực tuyến... tiếp tục được đẩy mạnh và nâng cao.

Công tác giám sát, phòng chống các dịch bệnh truyền nhiễm được triển khai tích cực. Việc đón tiếp, chăm sóc, điều trị người bệnh tại các cơ sở y tế được đảm bảo. Số lượt người được khám chữa bệnh năm 2021 là 108.326 lượt người. Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 92,6% dân số của huyện. Triển khai và hướng dẫn cài đặt và sử dụng ứng dụngVssiD - Bảo hiểm xã hội số có 60.719 hồ sơ được phê duyệt cấp mã, đạt 116% kế hoạch năm. Công tác quản lý các cơ sở khám chữa bệnh và cơ sở hành nghề y dược tư nhân được tăng cường; tổng số cơ sở huyện quản lý là 131 cơ sở (giảm 8 so với năm 2020).

Các mục tiêu chiến lược dân số: Tổng số trẻ sinh 1.962 ca, giảm 289 ca so với cùng kỳ; số sinh con thứ 3 trở lên là 307 ca; tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên bằng 19,9%, bằng cùng kỳ năm 2020.

Các hoạt động văn hóa, thông tin, truyền thông, phát thanh, truyền hình được triển khai đạt hiệu quả tích cực. Các cấp, các ngành và các địa phương tích cực triển khai các hoạt động tuyên truyền phục vụ các nhiệm vụ chính trị quan trọng của huyện, đặc biệt là cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, công tác phòng chống dịch Covid-19…. Chỉ đạo kiểm soát chặt chẽ các hoạt động tại các điểm du lịch, lễ hội thực hiện nghiêm túc công tác phòng, chống dịch theo chỉ đạo của UBND tỉnh. Triển khai Bộ tiêu chí "An toàn Covid-19" đối với cơ sở lưu trú cho các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn huyện. Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" được duy trì và phát triển sâu rộng, việc đăng ký và thực hiện các danh hiệu văn hóa năm 2021 tại thôn làng và các cơ quan, đơn vị đạt kết quả cao. Đến nay đã có 231/231 thôn, tổ dân phố đã hoàn thành việc xây dựng và sửa đổi hương ước, quy ước. Hoạt động thông tin, truyền thông, phát thanh được thực hiện tốt, đảm bảo nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội từ huyện đến cơ sở. Dự thảo Đề án “Đặt tên đường, phố trên địa bàn thị trấn Kiến Xương” đã được hội đồng tư vấn tỉnh cho ý kiến để tiếp tục hoàn thiện hồ sơ báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh. 

Công tác lao động, việc làm và thực hiện chính sách xã hội được duy trì thực hiện đầy đủ kịp thời; Tổ chức trao quà của Chủ tịch nước, của tỉnh, của huyện cho các đối tượng chính sách trong dịp tết Nguyên đán và ngày Thương binh - Liệt Sỹ đảm bảo đúng đối tượng và giải quyết đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với người và gia đình có công.Tổ chức các hoạt động ý nghĩa kỷ niệm 74 năm ngày Thương binh - Liệt Sỹ lễ, thắp nến tri ân các anh hùng liệt sĩ tại các nghĩa trang liệt sĩ và các công trình tri ân liệt sĩ. Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội, công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em, công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội, công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ tiếp tục được quan tâm chỉ đạo thực hiện.

Thực hiện Kế hoạch số 103/KH-UBND ngày 26/7/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình và một số văn bản của Chính Phủ về triển khai thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, trên địa bàn tỉnh Thái Bình; UBND huyện thành lập 05 tổ công tác cấp huyện phụ trách 07 nhóm đối tượng thuộc thẩm quyền của UBND huyện. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến quy định chính sách, vận động đối tượng và nhân dân tự giác chấp hành quy định của pháp luật, trong việc xử lý, giải quyết các trường hợp hưởng chế độ người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học theo Kết luận số 44/KL-TTr ngày 02/05/2015 của Thanh tra Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội; phối hợp với các Sở, ngành, tổ chức gặp gỡ, đối thoại, tuyên truyền vận động các đối tượng thuộc diện phải rà soát, hoàn thiện hồ sơ và người qua rà soát phải dừng trợ cấp theo quy định.

Hoạt động của các Hội (Chữ thập đỏ, Chất độc da cam, Khuyến học, Hội người mù, Thanh niên xung phong, Luật gia…) đều đảm bảo yêu cầu kế hoạch đề ra.

Công tác xây dựng chính quyền tiếp tục được quan tâm chỉ đạo thực hiện; công tác tổ chức cán bộ được duy trì, bộ máy quản lý nhà nước tại địa phương được kiện toàn và hoạt động có hiệu quả; tổ chức thành công đợt thi tuyển viên chức vào các đơn vị sự nghiệp. UBND huyện xây dựng và triển khai Kế hoạch chuyển đổi vị trí công tác một số vị trí công chức cấp xã, viên chức kế toán các trường học. Công tác tôn giáo, tín ngưỡng có chuyển biến tích cực; đảm bảo an toàn phòng, chống dịch Covid-19 trong các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.

Lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện thành công cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 (toàn huyện không có đơn vị bầu cử nào phải tổ chức bầu cử lại, bầu cử thêm). Sau bầu cử công tác tổ chức cán bộ, kiện toàn bộ máy của chính quyền huyện, xã được thực hiện đảm bảo theo quy định của pháp luật. Công tác cải cách hành chính được quan tâm chỉ đạo; các phòng, ban, ngành, đơn vị triển khai thực hiện các danh mục thủ tục hành chính theo ngành, lĩnh vực quản lý được thực hiện tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả huyện; tiếp tục thực hiện quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo phương án 5 tại chỗ”.

Công tác thanh tra Kinh tế - xã hội được chỉ đạo thực hiện theo kế hoạch. Công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân được duy trì nề nếp, đúng quy định. Chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo có chuyển biến tích cực; sự phối hợp trong giải quyết khiếu nại, tố cáo có nhiều tiến bộ. Tại trụ sở tiếp công dân của huyện đã tiếp 235 lượt công dân, tổng số 70 vụ việc. Tại các xã, thị trấn đã tiếp 285 lượt người. Tổng số đơn thư tiếp nhận toàn huyện là 174 đơn. Huyện tiếp nhận 83 đơn (trong đó tỉnh chuyển về 16 đơn); thuộc thẩm quyền huyện 29 đơn, đã giải quyết 28/29 đơn bằng 96,5%; 38 đơn không thuộc thẩm quyền đã có công văn chuyển xã giải quyết 36 đơn, đơn vị khác 02 đơn; lưu 16 đơn. Trong năm huyện tiếp nhận 19 đơn khiếu nại, tố cáo. Trong đó, đơn thuộc thẩm quyền huyện 13 đơn, thẩm quyền xã 4 đơn; thẩm quyền cơ quan, đơn vị khác  02 đơn, UBND, UBBC huyện đã có các công văn chuyển đến các đơn vị để giải quyết theo thẩm quyền.

Công tác phòng chống tham nhũng, UBND huyện đã xây dựng kế hoạch và thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí; xây dựng và ban hành, các chế độ định mức tiêu chuẩn; triển khai thực hiện các quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; công khai trong công tác tuyển dụng, bố trí quy quy hoạch đào tạo cán bộ; thực hiện các quy định về công khai minh bạch trong các hoạt động của cơ quan, tổ chức đơn vị; thực hiện các quy định về kê khai tài sản thu nhập…

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tiếp tục được các cấp, các ngành và địa phương trong toàn huyện coi trọng, thực hiện có trọng tâm, trọng điểm phục vụ kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và nhiệm vụ chính trị ở địa phương, đơn vị. Công tác đăng ký quản lý hộ tịch, chứng thực tiếp tục được duy trì, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, công dân khi thực hiện các giao dịch. Triển khai thực hiện Nghị định số 45/2021/NĐ-CP và Quyết định số 15/QĐ-UBND ngày 15/01/2021 của UBND tỉnh về thực hiện chứng thực bản sao điện tử từ bản chính đã triển khai 31/33 xã, thị trấn trên địa bàn huyện được cấp trên đánh giá cao.

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện và hoàn thành toàn diện nhiệm vụ công tác QP-QSĐP. Triển khai thanh cuộc diễn tập KVPT huyện, chiến đấu phòng thủ xã năm 2021. Chủ động kiện toàn Hội đồng GDQP&AN, chỉ đạo thực hiện tốt công tác giáo dục quốc phòng toàn dân và bồi dưỡng kiến thức GDQP&AN cho các đối tượng theo kế hoạch. Ban CHQS huyện đã tham mưu cho Hội đồng NVQS huyện, UBND huyện thực hiện tốt công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ; năm 2021 toàn huyện có 357 thanh niên lên đường nhập ngũ vào các đơn vị Quân đội và Công an, đạt 100% chỉ tiêu tỉnh giao, bảo đảm đúng luật, an toàn, chất lượng. Rà soát, phúc tra nguồn sẵn sàng nhập ngũ, sẵn sàng động viên năm 2022 chặt chẽ và hiệu quả. LLVT huyện thường xuyên duy trì nghiêm chế độ SSCĐ, bảo đảm an toàn các dịp lễ, tết, đặc biệt dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, thực hiện nghiêm công tác xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật; tổ chức huấn luyện cho các đối tượng đúng kế hoạch; tổ chức và tham gia Hội thi pháp luật về DQTV cấp tỉnh và Quân khu 3, đạt kết quả cao, có 02 đồng chí tham gia hội thi Quân khu, 01 đồng chí tham gia Hội thi toàn quốc. Tham dự cuộc thi “Tìm hiểu về Hội thao Quân sự Quốc tế ARMY GAMES” đạt kết quả tốt. Các địa phương thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chính sách hậu phương - quân đội, đền ơn đáp nghĩa, lực lượng quân đội, công an là lực lượng nòng cốt trong tham mưu và thực hiện nhiệm vụ tại các điểm chốt; bảo đảm hậu cần và phối hợp bảo đảm an ninh, an toàn các khu cách ly tập trung của huyện trong phòng, chống dịch Covid-19 đạt hiệu quả thiết thực.

UBND huyện kiện toàn Ban chỉ đạo 138, Ban chỉ đạo thực hiện Luật số 14, Nghị định 137 của huyện; triển khai nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự, phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, mở đợt cao điểm vận động thu hồi vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và pháo. Tích cực vận động thu hồi vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ còn tồn trong dân; tổ chức ký cam kết việc thực hiện Luật số 14 và Nghị định 137; tăng cường công tác tuần tra kiểm soát, thực hiện nghiêm Nghị định 100/NĐ-CP của Chính phủ. Tập trung chỉ đạo, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia chiến dịch cấp CCCD, chiến dịch làm sạch dữ liệu dân cư trên cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Mở 03 đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm bảo ANTT đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, cao điểm về phòng chống tội phạm về ma túy. UBND huyện chỉ đạo lực lượng công an bám sát yêu cầu, nhiệm vụ và tình hình thực tế của địa phương, xây dựng kế hoạch tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền các cấp giải quyết kịp thời những vấn đề vướng mắc nảy sinh gây bức xúc của nhân dân … xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật. Tình hình an ninh chính trị trên địa bàn huyện ổn định, không xảy ra tình trạng tụ tập đông người, tuần hành, biểu tình, đình công, lãn công, gây rối ANTT. Cán bộ, Đảng viên và quần chúng nhân dân đồng thuận và chấp hành nghiêm các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; công tác đảm bảo an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ được chỉ đạo quyết liệt; đã phát hiện và bắt giữ 34 vụ, 54 đối tượng mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 6,531 g heroin và 5,0959 g ma túy tổng hợp. Tổ chức xác minh, truy vết các trường hợp F1, F2 của bệnh nhân dương tính Covid-19. Tăng cường lực lượng phối hợp với Ban chỉ đạo phòng chống dịch cơ sở triển khai các biện pháp cách ly, phong tỏa, phát hiện, xử lý vi phạm về phòng, chống dịch Covid-19. Thực hiện Đề án số 106 của Bộ Công an về việc sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và Đề án số 03 của UBND tỉnh về việc điều động Công an chính quy đảm nhiệm chức danh Công an xã. Đến nay, tổ chức, bộ máy của lực lượng Công an cấp xã cơ bản được kiện toàn.