Dự án Tăng cường quản lý đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai PILGALD sử dụng nguồn vốn của Ngân hàng thế giới


Ngày 21 tháng 01 năm 2016     

Khung kế hoạch phát triển dân tộc thiểu số


1. Giới thiệu chung

 

Khung phát triển DTTS miêu tả các nguyên tắc và biện pháp mà Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phê duyệt và sẽ tuân thủ trong quá trình thực hiện Dự án PILGALD nhằm tối đa hóa lợi ích cho người dân tộc thiểu số (DTTS) và đảm bảo người DTTS không phải chịu những tác động xấu từ việc triển khai Dự án.

 

Khung kế hoạch này cũng nhằm đảm bảo việc tuân thủ các chính sách của Chính phủ Việt Nam liên quan đến người DTTS cũng như Chính sách 4.10 của Ngân hàng thế giới về người dân tộc.

 

Các nguyên tắc và cách tiếp cận trong Khung kế hoạch này sẽ áp dụng đối với các cộng đồng DTTS ở các làng/bản trong các khu vực Dự án. Các biện pháp cụ thể sẽ được thực hiện ở các huyện vùng cao thuộc vùng miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung và Tây Nam Bộ nơi người DTTS chiếm tỷ lệ cao.

 

Dự án PILGALD hướng tới nâng cao hiệu lực, hiệu quả và minh bạch của công tác quản lý đất đai tại địa bàn thực hiện dự án thông qua việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai và phát triển, vận hành một hệ thống thông tin đất đai quốc gia đa mục tiêu nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của Chính phủ, doanh nghiệp và người dân.

 

            Dự án sẽ được triển khai ở 165 huyện, thị thuộc 33 tỉnh được lựa chọn. Giai đoạn đầu dự kiến triển khai tại 12 tỉnh, gồm: Bắc Ninh, Thái Bình, Ninh Bình, Thái Nguyên, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Khánh Hòa, Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang và An Giang. Cộng đồng DTTS cư trú trong khu vực thuộc các tỉnh được lựa chọn của Dự án cũng sẽ nằm trong phạm vi các hoạt động của dự án:

 

- Hành lang pháp lý, các quy trình hướng dẫn thực thi pháp luật đất đai được hoàn thiện, hướng dẫn và áp dụng thống nhất cho tất cả các địa phương trong cả nước. Cả các các cơ quan quản lý và người sử dụng đất sẽ tiếp cận sâu rộng hơn các quy định của pháp luật liên quan đến xây dựng, quản lý và khai thác hệ thống thông tin đất đai.

 

- Hệ thống thông tin đất đai đa mục tiêu được xây dựng; chất lượng cung cấp dịch vụ của các Văn phòng Đăng ký đất đai sẽ được cải thiện. Các Văn phòng Đăng ký đất đai và các chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai sẽ được hiện đại hóa, kết nối với Hệ thống thông tin đất đai quốc gia và thực hiện cung cấp các dịch vụ trong lĩnh vực đất đai cho các tất cả các bên liên quan theo nhu cầu. Công tác cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai được tăng cường hơn.

 

- Hệ thống theo dõi, đánh giá việc quản lý, sử dụng đất được xây dựng và triển khai ở các khu vực dự án góp phần quản lý và triển khai dự án hiệu quả.

 

- Trong một số trường hợp, đất đai sẽ được đo đạc chỉnh lý để hoàn thiện và cập nhật hồ sơ địa chính. Các thông tin liên quan đến đăng ký đất đai và sử dụng đất sẽ được chuẩn hóa để lưu trữ, truy cập và cập nhật. 

 

- Kế hoạch đào tạo và truyền thông về Dự án được xây dựng và thực hiện có định hướng hiệu quả hơn nhằm thay đổi nhận thức của các đối tượng có liên quan từ người quản lý, các tổ chức và cá nhân có nhu cầu sử dụng các dịch vụ trong lĩnh vực đất đai, người sử dụng đất. Thông qua đó mà các nguyên tắc công khai, dân chủ, minh bạch trong quản lý đất đai và quyền tiếp cận thông tin đất được hiện thực hóa.

 

Trên cơ sở phạm vi và các hoạt động của Dự án, trong khuôn khổ của tài liệu này, chúng tôi dự kiến Khung kế hoạch cho các hoạt động trong tương lai.

 

2. Khung chính sách và pháp lý

 

Quy định pháp lý hiện hành đối với các nhóm dân tộc thiểu số

 

Vùng DTTS và miền núi chiếm ¾ diện tích tự nhiên của Việt Nam. Đây là địa bàn cư trú chủ yếu của 53 DTTS với gần 12,3 triệu người, chiếm 14,2% dân số cả nước. Đây là vùng có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh, môi trường sinh thái, có nhiều tiềm năng, lợi thế về nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy điện, khoáng sản, du lịch, kinh tế cửa khẩu nhưng cũng là vùng kinh tế - xã hội kém phát triển của đất nước.

 

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định vấn đề dân tộc, công tác dân tộc luôn có vị trị chiến lược quan trọng. Tất cả người dân tộc ở Việt Nam đều có đầy đủ quyền công dân và được bảo vệ bằng các điều khoản công bằng theo Hiến pháp và pháp luật. Chủ trương, chính sách cơ bản đó là "Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển”, trong đó vấn đề ưu tiên là "đảm bảo phát triển bền vững vùng DTTS và miền núi”.

 

Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã ghi nhận quyền bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam (Điều 5) như sau:

 

“1. Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.

 

2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.

 

 3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình.

 

4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các DTTS phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.”

 

Trong thời gian qua, hệ thống chính sách dân tộc đã được thể chế cụ thể hơn trong Luật, các Nghị định và Nghị quyết của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; được phân thành 03 nhóm:

 

- Nhóm chính sách theo dân tộc và nhóm dân tộc;

 

- Nhóm chính sách phát triển kinh tế - xã hội theo vùng, theo địa bàn;

 

- Nhóm chính sách phát triển kinh tế - xã hội theo lĩnh vực, theo ngành (hỗ trợ phát triển sản xuất; giảm nghèo, đào tạo nghề và giải quyết việc làm; nước sạch, bảo vệ môi trường sinh thái; phát triển giáo dục và đào tạo; bảo tồn và phát triển văn hóa, du lịch, thông tin tuyên truyền; y tế, dân số, chăm sóc sức khỏe; củng cố hệ thống chính trị vùng DTTS và phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý).

 

Các tài liệu của Chính phủ về vấn đề dân chủ cơ sở và sự tham gia của người dân cũng liên quan trực tiếp tới Khung kế hoạch phát triển Dân tộc thiểu số. Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20 tháng 4 năm 2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 11 về thực hiện dân chủ tại cấp xã, phường, thị trấn cung cấp cơ sở cho sự tham gia của cộng đồng vào việc chuẩn bị các kế hoạch phát triển và sự giám sát của cộng đồng tại Việt Nam. Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 4 năm 2005 quy định việc giám sát đầu tư của cộng đồng.

 

Luật Đất đai 2013

 

Điều 27 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: Nhà nước có chính sách về đất ở, đất sinh hoạt cộng đồng cho đồng bào DTTS phù hợp với phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa và điều kiện thực tế của từng vùng; có chính sách tạo điều kiện cho đồng bào DTTS trực tiếp sản xuất nông nghiệp ở nông thôn có đất để sản xuất nông nghiệp.

 

Điều 28 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: Nhà nước có trách nhiệm xây dựng, quản lý hệ thống thông tin đất đai và bảo đảm quyền tiếp cận của tổ chức, cá nhân đối với hệ thống thông tin đất đai; thực hiện công bố kịp thời, công khai thông tin cho các tổ chức, cá nhân; cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong quản lý, sử dụng đất đai có trách nhiệm tạo điều kiện, cung cấp thông tin về đất đai cho tổ chức, cá nhân theo quy định.

 

Điều 110 của Luật Đất đai năm 2013 quy định miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với trường hợp sử dụng đất để thực hiện chính sách nhà ở, đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân là DTTS ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo; sử dụng đất sản xuất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân là dân tộc thiểu số.

 

Theo quy định của Luật Đất đai, cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật Đất đai và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Điều 100) và được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất để bảo tồn bản sắc dân tộc gắn với phong tục, tập quán của các dân tộc (Điều 131), đồng thời việc giao đất, cho thuê đất phải ưu tiên hộ gia đình, cá nhân là DTTS không có đất hoặc thiếu đất sản xuất ở địa phương (Điều 133).

 

Chính phủ cũng đã và đang triển khai hàng loạt chính sách về hỗ trợ đất ở, đất sản xuất; giao đất, giao rừng cho đồng bào DTTS và các hộ nghèo. Việc thực hiện các chính sách này đã góp phần cải thiện cuộc sống cho đồng bào, góp phần tạo động lực cho người dân tham gia trồng và bảo vệ rừng.

 
Sự thống nhất với chính sách hoạt động của Ngân hàng thế giới về người bản địa

 

Chính sách hoạt động 4.10 (cập nhật năm 2005) của Ngân hàng Thế giới (WB) yêu cầu Bên đi vay thực hiện một quá trình tham vấn tự do, được thông báo trước và được thực hiện trước khi tiến hành dự án với người dân bản địa khi người dân bản địa bị ảnh hưởng bởi dự án. Mục đích của việc tham vấn này là nhằm tránh hoặc giảm đến mức tối thiểu những tác động xấu của dự án đến người DTTS và để đảm bảo các hoạt động của dự án phù hợp với văn hóa và phong tục của địa phương. Khuyến khích việc ra quyết định của địa phương và sự tham gia của cộng đồng trong khuôn khổ quy định pháp luật của Việt Nam về phân cấp và về đất đai phù hợp với chính sách của Ngân hàng thế giới.

 

Chính sách an toàn của Ngân hàng thế giới chỉ rõ người dân bản địa là nhóm (a) tự xác định là những thành viên của nhóm văn hóa bản địa riêng biệt và điều đó được những nhóm khác công nhận; (b) cùng chung môi trường sống riêng biệt về mặt địa lý hoặc cùng lãnh thổ của tổ tiên trong khu vực dự án và cùng chung nguồn tài nguyên thiên nhiên trong những môi trường và lãnh thổ này; (c) thể chế về văn hóa theo phong tục tập quán riêng biệt so với xã hội và văn hóa chủ đạo; và (d) một ngôn ngữ bản địa, thường là khác với ngôn ngữ chính thức của đất nước hoặc của vùng.

 

Trong phạm vi triển khai dự án PILGALD, các nhóm dân tộc tại các địa bàn triển khai dự án có khả năng nhận được lợi ích lâu dài từ việc được truyền thông để nhận thức được các quy định của pháp luật cho đến việc được tiếp cận với các thông tin đất đai và các dịch vụ đất đai. Việc ban hành Khung phát triển DTTS là cơ sở để xây dựng các chính sách cụ thể và hành động để giảm thiểu các tác động tiềm tàng có thể xảy ra trong quá trình triển khai các hoạt động của dự án (bao gồm cả hoạt động đo đạc, chỉnh lý phục vụ xây dựng hệ thống thông tin đất đai).

 

3. Dự án và người dân tộc thiểu số

 

Thông tin chung

 

Dự án PILGALD được thực hiện tại 165 huyện của 33 tỉnh, thành phố; trong đó miền Bắc có 14 tỉnh, miền Trung có 10 tỉnh và miền Nam có 09 tỉnh. Đồng bào DTTS tập trung chủ yếu tại các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây nguyên, các tỉnh miền Trung và Tây Nam bộ và gồm các thành phần dân tộc sau đây:

 

- Dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao, Sán Chay, Sán Dìu,… tại các tỉnh Miền núi phía Bắc;

 

- Dân tộc Mường ở Ninh Bình;

 

- Dân tộc Chứt, Khùa, Vân Kiều, Ra - glai, Co ho,… tại các tỉnh Miền Trung;

 

- Dân tộc Gia - rai, Ê -đê, Ba - Na, ... tại các tỉnh Tây Nguyên;

 

- Dân tộc Khmer, Chăm,… tại các tỉnh Miền Tây.

 

Trong 12 tỉnh thuộc giai đoạn 01 của Dự án có 07 tỉnh có đồng bào DTTS sinh sống như Thái Nguyên, Ninh Bình, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Khánh Hòa, Vĩnh Long và An Giang. Hiện có 393.271 đồng bào DTTS đang sinh sống trên địa bàn các tỉnh dự án giai đoạn đầu, cụ thể tại các huyện trực tiếp thực hiện Dự án có 240.170 người; trong đó: đồng bào Khmer là đông nhất có 40.031 người sống ở An Giang và Vĩnh Long; tiếp đến là đồng bào Tày (41.417 người), Nùng (38.691 người), Sán Dìu (34.065 người) ở Thái Nguyên; đồng bào Sách ở Quảng Bình (2.392 người); đồng bào Mường ở Ninh Bình (25.186 người); đồng bào Ê đê (1.979 người), Ra-Glai (1.492 người) ở Khánh Hòa. Có một số dân tộc mặc dù số người rất ít nhưng lại thuộc diện cần phải quan tâm để bảo tồn như đồng bào Chứt (137 người) ở Hà Tĩnh.

 

Chi tiết các DTTS tại địa bàn triển khai dự án trong giai đoạn 01 tại Phụ lục 01.

 
Chuẩn bị Dự án

 

Khung chính sách phát triển DTTS (EMDF) được xây dựng dựa trên kết quả tham vấn với các đối tượng có liên quan như các cơ quan quản lý đất đai và trực tiếp người DTTS trong khu vực dự án. Tham vấn là việc làm rất quan trọng đối với việc chuẩn bị Kế hoạch hành động dân tộc thiểu số (EMDP) bởi nó cung cấp cho những nhóm người DTTS (kể cả những người bị ảnh hưởng và những người có khả năng bị ảnh hưởng bởi tiểu dự án) những cơ hội tham gia vào quá trình lập kế hoạch và thực hiện các hợp phần của dự án. Quan trọng hơn, nó giúp xác định được các yếu tố tác động tiêu cực tiềm năng nếu có để có thể đưa ra các biện pháp phù hợp để có thể tránh, giảm thiểu và giảm nhẹ những tác động tiêu cực. Tham vấn cũng nhằm mục đích đảm bảo cho người DTTS có cơ hội để hiểu rõ ràng hơn những điều họ cần dự án hỗ trợ, trên cơ sở hiểu biết của họ về mục đích của dự án, liên quan đến mục tiêu và các hoạt động của dự án. Trong những dự án mà Ngân hàng Thế giới tài trợ, toàn bộ việc thiết kế EMDP đều dựa trên kết quả nghiên cứu được dẫn chiếu là đánh giá xã hội.

 

Việc tham vấn, đánh giá xã hội tiến hành triển khai tại 06 tỉnh/12 tỉnh của giai đoạn 01 như: Thái Nguyên, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hà Tĩnh, Quảng Bình và An Giang.

 

Kết quả tham vấn

 

Qua tham vấn trực tiếp tại 06 tỉnh và báo cáo bằng văn bản của 02 tỉnh không tham vấn, nổi lên những nhóm vấn đề sau đây:

 

Nhìn chung, các nhóm người dân được hỏi ở các điểm nghiên cứu bày tỏ ủng hộ cho dự án từ những quan điểm của riêng mình, tùy thuộc vào vị trí công tác hoặc sự quan tâm của họ đối với thông tin đất đai. Các nhóm DTTS đều quan tâm và ủng hộ Dự án PILGALD và kỳ vọng khi dự án được triển khai thì đồng bào sẽ được đáp ứng các nhu cầu khác nhau liên quan đến các thông tin đất đai cơ bản như thông tin về quy hoạch, thông tin về thửa đất, nội dung hướng dẫn để được cấp giấy chứng nhận khi tách hộ, khi để thừa kế, nội dung hướng dẫn thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất và việc cung cấp các dịch vụ trong lĩnh vực đất đai tại chỗ cho đồng bào. Họ thừa nhận ba lợi ích quan trọng của dự án, bao gồm:

 

·         Giảm thời gian và nỗ lực cho người sử dụng đất,

 

·         Cải thiện môi trường kinh doanh: Với sự minh bạch của thông tin đất đai và được cung cấp một cách thuận tiện, nhà đầu tư có thể thu được nhiều thông tin cần thiết về các lô đất (tình trạng của thửa đất, yêu cầu về hợp đồng và thủ tục mà không cần phải đi trực tiếp đến thửa đất);

·         Quy trình quản lý đối với các dịch vụ công và hộ gia đình sử dụng đất được cải thiện: Nhờ sự chia sẻ thông tin đất đai giữa các cơ quan cung cấp dịch vụ công liên quan, như công chứng, pháp lý và thuế, các cơ quan này nhận thấy công việc của họ được cải thiện đáng kể.

 

Tuy nhiên, một số đối tượng khác, bao gồm doanh nghiệp, công chứng và Văn phòng luật sư, bày tỏ quan ngại của họ về một số tác động tiêu cực và các rủi ro của dự án, dựa trên các kinh nghiệm phong phú của họ trong việc đối phó với các trường hợp nhạy cảm và phức tạp liên quan đến thông tin đất đai. Các mối quan tâm mà họ nêu ra trong nghiên cứu này bao gồm:

 

·         Cung cấp thông tin đất đai không đồng đều: Một số người nhận thấy rằng những cải tiến về sự sẵn có và khả năng tiếp cận các dữ liệu đất đai và dịch vụ thông tin nghiêng về phía các đối tượng ở khu vực đô thị - những nơi phát triển hơn. Điều này có thể dẫn đến sự không bình đẳng về tiếp cận đất đai thông tin;

 

·         Bảo mật thông tin: người được khảo sát quan ngại rằng việc cung cấp thông tin đất đai cá nhân có thể dẫn đến rò rỉ các thông tin về tài sản cá nhân và sự riêng tư, đặc biệt là khi không có quy định rõ ràng về việc các bên liên quan nào được toàn quyền truy cập vào các loại thông tin này; 

·         Xung đột với các quy định của pháp luật hiện hành và văn bản dưới luật liên quan: Liên quan tới vấn đề bảo mật, một số người được hỏi lo ngại rằng dự án có thể vi phạm các luật có liên quan hiện hành về bảo vệ thông tin và an ninh cá nhân và doanh nghiệp, như Luật Đất đai, Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật hình sự và pháp luật về tiếp cận thông tin;

·         Cạnh tranh không lành mạnh: Cũng liên quan đến vấn đề bảo mật, một số người lo ngại rằng sự cạnh tranh không lành mạnh có thể xảy ra giữa các doanh nghiệp khi họ có thể có được thông tin về tài sản và các khoản thế chấp của đối thủ cạnh tranh;  

 

·         Độ chính xác và độ tin cậy của thông tin: độ chính xác và độ tin cậy của thông tin, đặc biệt là liên quan đến các chủ sử dụng hiện tại của thửa đất và tài sản gắn liền với đất, được coi là rất quan trọng vì người dân tin rằng thông tin trong cơ sở dữ liệu không chính xác và không đáng tin cậy có thể gây thiệt hại cho người mua;

 

·         Trách nhiệm giải trình, trách nhiệm hình sự và bồi thường: một số người được hỏi bày tỏ quan ngại của họ về trách nhiệm giải trình, trách nhiệm hình sự và bồi thường liên quan đến thiệt hại kinh tế do thông tin không chính xác và không đáng tin cậy mà khách hàng nhận được từ các cơ sở dữ liệu. Đặc biệt, họ băn khoăn về việc liệu có văn bản pháp luật nào là nền tảng cho hoạt động của dự án nói chung và MPLIS nói riêng để đảm bảo tính hợp pháp của các thông tin được cung cấp và bên nào sẽ chịu trách nhiệm về các thiệt hại này;     

·         Cập nhật: Một số người lo ngại rằng các cán bộ quản lý đất đai của địa phương có thể không có đủ nguồn lực và khả năng để cập nhật thông tin trong MPLIS, bao gồm cả cập nhật kịp thời về những thay đổi mới nhất của các văn bản, chính sách pháp luật liên quan đến đất đai để tránh tổn thất cho người dân trong các giao dịch của họ. Điều này cũng đặt ra câu hỏi về tính bền vững của dự án nói chung và MPLIS nói riêng;

 

·                     Không thống nhất trong việc cải thiện, nâng cấp Văn phòng đăng ký đất đai, khung pháp lý và truyền thông: người trả lời ở Bắc Ninh đang lo ngại rằng dự án có thể không đạt được mục tiêu dự kiến nếu như không xây dựng được một khuôn khổ pháp lý về hoạt động của Văn phòng đăng ký đất đai để phù hợp với các Văn phòng đăng ký đất đai được nâng cấp, và lợi ích của dự án không được tuyên truyền, phổ biến phù hợp cho công chúng.

 

Mức độ hiểu biết chính sách, pháp luật về đất đai:

 

·         Hầu hết đồng bào DTTS còn nhiều hạn chế trong nhận thức pháp luật về đất đai, có trường hợp (đồng bào Chứt tại Hà Tĩnh) họ không biết đến pháp luật.

 

Vai trò của cán bộ địa phương:

 

·         Qua phỏng vấn trực tiếp đồng bào DTTD cho thấy khi gặp phải những những khó khăn, vướng mắc nói chung, các vướng mắc, khó khăn liên quan đến vấn đề đất đai nói riêng, đồng bào thường tìm đến trưởng thôn, trưởng bản, cán bộ xã hoặc người có uy tín như Sư cả, A Cha. Do đó, trong khu vực dự án, cần xây dựng mạng lưới cán bộ dân tộc địa phương, đặc biệt là đội ngũ những người có uy tín, mặt trận Tổ quốc, thanh niên, phụ nữ, địa chính xã và những cán bộ hỗ trợ nòng cốt khác. Nếu thiếu vai trò của những đối tượng này thì các chính sách đất đai cho người DTTS sẽ không đến được với đồng bào.

 

·         Kinh nghiệm triển khai dự án VLAP cho thấy vai trò quan trọng của các đơn vị hỗ trợ dịa phương như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên,… Cần phát huy vai trò của các đơn vị này để nâng cao hiệu quả của công tác cung cấp thông tin đất đai tới người dân tộc thiểu số.

 

Phương thức sử dụng đất theo phong tục:

 

·         Sử dụng đất theo tập tục không biểu hiện rõ khi tham vấn tại các địa phương, ngoại trừ đối với đồng bào Chứt tại tỉnh Hà Tĩnh. Tập quán của đồng bào dân tộc Chứt là sống du canh, du cư tại các địa bàn rẻo cao huyện Hương Khê. Tuy nhiên, hiện nay với sự vào cuộc của chính quyền địa phương, đồng bào Chứt đã được Nhà nước quy hoạch, bố trí đất ở, đất sản xuất để định canh, định cư ổn định; đồng thời Nhà nước cũng đã có Đề án để bảo tồn dân tộc Chứt.

 

Bảo đảm thực hiện tham vấn với DTTS ở từng giai đoạn của quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án:

·         Tham vấn được thông báo trước: Trong thời gian thực hiện dự án, nhằm đảm bảo nguyên tắc sự tham gia của các bên có liên quan và phù hợp về mặt văn hóa, dự án cần tổ chức tham vấn liên tục kể cả thu nhận phản hồi từ tất cả các cộng đồng để có thể thực hiện các hành động khắc phục hậu quả nhằm hỗ trợ nâng cao sự tham gia và mang lại lợi ích cho các hộ gia đình bao gồm cả các nhóm dân tộc thiểu số. Các phương pháp tham vấn cần phù hợp với đặc điểm xã hội và văn hóa của các dân tộc thiểu số, và cần lưu ý đặc biệt tới các nhóm như cán bộ quản lý đất đai, hộ gia đình, trưởng thôn/làng và các nhà cung cấp dịch vụ khác có liên quan. Người sử dụng đất DTTS sẽ được cung cấp các thông tin có liên quan về dự án một cách phù hợp với văn hóa trong quá trình thực hiện, giám sát và đánh giá dự án để thúc đẩy sự tham gia đầy đủ của các bên. Ngoài ra, các thông tin đầu vào sử dụng cho công tác giám sát và đánh giá (như vấn đề truy cập thông tin của DTTS và lợi ích thu được từ các thông tin này) cần có sự tham gia của các bên liên quan đến dân tộc thiểu số. Bằng cách cho phép sự tham gia của các bên liên quan về DTTS vào quá trình lập kế hoạch, thực hiện, giám sát và đánh giá dự án, dự án có thể đảm bảo rằng DTTS sẽ nhận được lợi ích về kinh tế xã hội, phù hợp về mặt văn hóa. Khi làm như vậy, các thông tin đất đai mà dự án xây dựng nên có thể góp phần vào các nỗ lực về minh bạch và hiệu quả cho DTTS nói chung.

 

Sự đa dạng ở địa phương:

 

·         Nhu cầu và phương thức tiếp cận thông tin đất đai có sự khác biệt lớn trong các nhóm DTTS phụ thuộc vào sự khác nhau về mức độ phát triển, khả năng tiếp nhận, về hoàn cảnh môi trường và nền tảng kinh nghiệm. Dân tộc Khmer có những nhu cầu về quản lý đất đai có thể so sánh với người Kinh. Tuy vậy, họ đại diện cho nhóm người nghèo, họ gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin và kiến thức được đào tạo để biết về các quyền và nghĩa vụ của họ. Khoảng cách văn hóa giữa dân tộc Kinh và các DTTS ở các huyện miền núi thuộc khu vực Duyên hải miền Trung rất khác nhau so với giữa các nhóm dân tộc cũng như là trong một nhóm dân tộc. Cũng sẽ rất khác nhau trong việc các tỉnh xử lý vấn đề quản lý quyền sử dụng đất theo phong tục truyền thống. Dự án cần có phương pháp tiếp cận riêng đối với người DTTS nhằm tránh những giải pháp không phù hợp.

 

4. Các bước gợi ý cho phát triển một EMDP

 

CPMU, PPMU hoặc tư vấn cần tuân thủ các bước sau đây để lập Kế hoạch phát triển DTTS cho dự án.

 

Bước

 

Kế hoạch thực hiện

 

Giám sát và thực hiện

 

1

 

Mục tiêu EMDP.

 

Nhằm đảm bảo: (1) Tránh, giảm thiểu, giảm nhẹ yếu tố tác động tiêu cực tiềm năng (nếu có) và (2) Nhóm DTTS nhận được lợi ích phù hợp với văn hóa của họ.

 

 

 

2

 

Phát triển kế hoạch thu thập dữ liệu.

 

·         Dữ liệu gì cần được thu thập?

 

·         Thu thập như thế nào?

 

·         Sử dụng công cụ nào để thu thập?

 

·         Ai thu thập dữ liệu?

 

·         Như thế nào và khi nào thì dữ liệu được thu thập?

 

Thu thập dữ liệu:

 

·         Việc thu thập dữ liệu được thực hiện như thế nào?

 

·         Làm gì để đảm bảo dữ liệu được thu thập đúng kế hoạch?

 

Phân tích dữ liệu:

 

·         Dữ liệu được xem xét và phân tích như thế nào?

 

·         Dữ liệu được thể hiện như thế nào trong bản trình bày Kế hoạch Thực hiện?

 

-          Cần thu thập cái gì

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

-          Thu thập như thế nào.

 

 

 

 

 

-          Thu thập cái gì.

 

3

 

Xác định: (a) Yếu tố tác động tiêu cực tiềm năng (nếu có) và (b) tiến hành đánh giá nhu cầu (có mục tiêu rõ ràng và chiến lược ưu tiên).

 

·         Dữ liệu gợi ý nào cho các nhóm mục tiêu có thể cần hỗ trợ từ dự án?

 

·         Nhu cầu ưu tiên dựa trên các nguồn lực sẵn có như thế nào (nhân sự và tài chính)?

 

-          Những người được hưởng lợi đã được xác định chính xác như thế nào, và các nguồn nào được sử dụng để đáp ứng đủ nhu cầu?

 

4

 

Xác định yếu tố và kết quả đánh giá nhu cầu (thông qua tham vấn)

 

·           Kết hợp nhu cầu phát triển của người DTTS với bản tổng kết dữ liệu thứ cấp.

 

·           Xác định các yếu tố tác động tiêu cực tiềm tàng từ các hoạt động của dự án có thể ảnh hưởng đến nhóm DTTS đã được tham vấn và làm thế nào để tránh được, giảm thiểu, giảm nhẹ những yếu tố này.

 

-          PPMU có đáp ứng mong đợi của những người được hưởng lợi và mục tiêu của dự án hay không?

 

-          Có tiến hành tham vấn đúng không?

 

5

 

Viết báo cáo EMDP

 

·         Các hoạt động nào cần làm (theo như đánh giá nhu cầu được xác nhận bởi các cuộc tham vấn với các nhóm mục tiêu).

 

·         Làm thế nào để thực hiện các hoạt động này?

 

·         Cần những nguồn nào (tài chính và nhân sự)?

 

·         Khi nào cần tiến hành những hoạt động này?

 

·         Kế hoạch thực hiện này có thể thành công? Làm thế nào mà PPMU biết kế hoạch này có thể đạt kết quả?

 

(Biết liệu kế hoạch thực hiện có thể đạt kết quả, một bản kế hoạch Giám sát và Thực hiện (cột phải) cần phải được phát triển song song với kế hoạch thực hiện Dự án.)

 

 

 

 

 

- Kế hoạch thực hiện có thể thành công không?

 

 

 

5. Các biện pháp cụ thể nhằm thực hiện dự án ở các huyện có nhiều người dân tộc thiểu số.

 

5.1. Thành lập Nhóm tư vấn cộng đồng                              

 

Nhóm tư vấn cộng đồng được thành lập để tổ chức tiếp nhận thông tin ý kiến phản hồi của các đối tượng có liên quan như các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ trong lĩnh vực đất đai, đặc biệt là dịch vụ cung cấp thông ton đất đai, người sử dụng đất, đặc biệt là DTTS.

 

Ban Quản lý dự án PILGALD các tỉnh sẽ tổ chức hội thảo thường kỳ để lấy ý kiến tham vấn của Nhóm tư vấn cộng đồng, tập trung vào các nhóm vấn đề như sau :

 

·         Các nhóm DTTS có những nhu cầu thông tin đất đai như thế nào? Các tập tục văn hóa của họ được quan tâm như thế nào trong quá trình đo đạc và cung cấp thông tin về đất đai, cung cấp các dịch vụ khác trong lĩnh vực đất đai?

 

·         Cán bộ quản lý đất đai nên quan tâm như thế nào về các tập tục truyền thống về đất đai trong quá trình đo đạc, cấp mới/cấp đổi GCN và cung cấp thông tin về đất đai?

 

·         Làm thế nào để thể hiện sự quan tâm tới các vấn đề liên quan đến quản lý, sử dụng đất của đồng bào dân tộc thiểu số?

 

·         Đâu là những trở ngại của nhóm dân tộc tại địa phương trong việc hiểu chữ viết tiếng Việt trên các phương tiên truyền thông hay trong các cuộc họp? Các hoạt động nâng cao nhận thức nên tổ chức như thế nào để khắc phục trở ngại đó?

 

·         Làm thế nào để các nhóm DTTS tiếp cận thông tin đất đai một cách hiệu quả và thiết thực nhất thông qua các hoạt động của Dự án PILGALD?

 

5.2. Sử dụng các công cụ truyền thông hiện đại và hiệu quả

 

·         Ban quản lý dự án PILGALD tỉnh sẽ biên soạn công cụ truyền thông nghe nhìn dễ hiểu bằng đĩa DVD với phần tiếng Việt và một số nội dung dự án PILGALD dịch sang dân tộc (chỉ đối với địa phương có khóa khăn trong rào cản ngôn ngữ) sẽ được chuẩn bị để sử dụng trong quá trình hoạt động tại địa phương dựa trên các đề xuất của nhóm tham gia cộng đồng cấp huyện. Cách tiếp cận và sử dụng MPLIS và các dịch vụ của văn phòng đăng ký đất là một số nội dung được giới thiệu trong công cụ thông tin này. Công cụ truyền thông này sẽ được cất giữ tại các trung tâm văn hóa để có thể dùng diễn giải về Dự án PILGALD và việc quản lý đất đai.

 

·         Ban quản lý dự án PILGALD tỉnh có thể xem xét trang bị máy tính tại xã, ấp, thôn để người dân tộc có thể truy cập thông tin dễ dàng, thuận tiện (sẽ có đào tạo và hướng dẫn) hoặc tiếp cận thông tin thông qua trưởng thôn, bản, ấp, Sư cả, A Cha,….

 

·         Ban quản lý dự án PILGALD tỉnh tăng cường tiếp cận và chia sẻ thông tin đất đai cho người dân,

 

·         Ban quản lý dự án PILGALD tỉnh huy động sự tham gia tích cực của cộng đồng trong việc giám sát và thực hiện pháp luật đất đai.

 

5.3. Nâng cao nhận thức cộng đồng và đào tạo cán bộ địa phương, cán bộ đất đai:

 

·         Các phòng tài nguyên và môi trường huyện sẽ tổ chức nhiều cuộc họp ở mỗi xã, thôn tại đó sẽ trả lời các câu hỏi và giải thích bằng tiếng dân tộc (nếu cần thiết). Hoạt động này sẽ được triển khai trước và trong suốt quá trình thực hiện Dự án. Những người trợ giúp cho các cuộc họp, các tổ chức tại địa phương hoặc cán bộ quản lý đất đai địa phương sẽ do Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện kết hợp với xã lựa chọn. Các công cụ giao tiếp bao gồm video bằng tiếng địa phương sẽ được sử dụng tại các cuộc họp và được lưu tại nhà văn hóa. Trước các cuộc họp, các trưởng thôn sẽ tham gia các khóa đào tạo trong vài ngày.

 

·         Ban quản lý dự án PILGALD tỉnh kết hợp với cơ quan thông tin đại chúng tuyên truyền, phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh và các địa phương.

 

·         Tài liệu để phục vụ cho các cuộc họp dân, tham vấn lấy ý kiến ở cấp xã do Văn phòng Ban quản lý dự án PILGALD tỉnh cung cấp trên cơ sở sử dụng các mẫu, các văn bản pháp luật hoặc những tài liệu tuyên truyền do Ban quản lý dự án PILGALD cấp Trung ương biên soạn. Tất cả các tài liệu thông tin được thực hiện một cách đơn giản, thông điệp và hình ảnh rõ ràng (trường hợp cần thiết thì dịch sang dân tộc).

 

·         Đào tạo cán bộ quản lý đất đai: Các hội thảo định hướng cho các cán bộ quản lý đất đai trong việc tiếp cận với đồng bào DTTS sẽ trọng tâm vào (1) nhu cầu đặc biệt của các nhóm dân có trở ngại về ngôn ngữ, và (2) tầm quan trọng của việc tham vấn địa phương được kết hợp trong nội dung khóa đào tạo của dự án nhằm nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ quản lý đất đai, cũng như nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ thông tin về đất cho các cán bộ có liên quan.

 

·         Văn phòng dự án trung ương sẽ tổ chức một hội thảo để đúc kết những bài học kinh nghiệm và thực tiến tốt từ quá trình triển khai Dự án ở các huyện chính nhằm nhân rộng những mô hình này ra những khu vực miền núi có người DTTS ở Việt Nam.

 

5.4. Thiết lập dịch vụ hỗ trợ tiếp cận thông tin đất đai và đăng ký đất đai tại các cộng đồng nơi có các nhóm dân tộc thiểu số sinh sống

 

 Các chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai sẽ thực hiện dịch vụ hỗ trợ tiếp cận thông tin đất đai và đăng ký đất cho các nhóm dân tộc thiểu số; tổ chức tập huấn cán bộ cấp xã, trưởng thôn, bản, ấp, những người có uy tín tại cocongj đồng thực hiện việc tra cứu; hỗ trợ tiếp nhận và sử dụng hệ thống thông tin đất đai qua mạng Internet để cung cấp thông tin đất đai cho các nhóm dân tộc thiểu số và xác nhận các hợp đồng giao dịch về đất đai.

 

Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai sẽ tham vấn với chính quyền xã, ấp và nhóm tư vấn cộng đồng cấp để xây dựng kế hoạch, lịch làm việc trực tiếp định kỳ phù hợp với điều kiện của đồng bào dân tộc tại địa phương. Chính quyền xã, thôn sẽ thông báo rộng rãi các kế hoạch và lịch làm việc này để mọi người dân được biết và sử dụng dịch vụ khi có nhu cầu.

 

Văn phòng dự án trung ương sẽ thiết lập một trang web nằm trong website của Bộ Tài nguyên và Môi trường nhằm cung cấp những thông tin về đất đai có liên quan trực tiếp tới mối quan tâm của người dân tộc thiểu số.

 

5.5. Thực hiện thường xuyên công tác theo dõi, đánh giá

 

Trong điều kiện cho phép, Ban Quản lý Dự án tỉnh sẽ phân tổ các số liệu theo dõi, đánh giá liên quan đến các hoạt động của dự án tại các địa bàn trong tỉnh theo nhóm dân tộc, trình trạng nghèo/cận nghèo/không nghèo và giới tính.

 

6. Công bố EMDP

 

Một khi chuẩn bị cho EMDP đã hoàn tất, cần công bố cho những người DTTS bị tác động và cộng đồng nơi họ sinh sống. EMDP cần công bố một cách rành mạch, dễ hiểu cho những người DTTS và cộng đồng của họ để họ có thể hiểu biết đầy đủ và tham gia một cách dễ dàng. Bên cạnh việc công bố EMDP, các cuộc họp cần được tổ chức ở cấp độ cộng đồng nơi có người DTTS bị tác động bởi dự án. Nếu cần, các cuộc họp được triển khai có sử dụng ngôn ngữ của người DTTS bị tác động để đảm bảo họ hiểu đầy đủ mục tiêu của EMDP và có thể cung cấp các phản hồi.

 

Ghi nhớ rằng tất cả các EMDP được chuẩn bị trong quá trình thực hiện dự án cần phải được công bố đúng lúc, đúng chỗ tại địa phương, trước khi triển khai các hoạt động của dự án. Các EMDP cần công bố ở những nơi hay có người qua lại, sử dụng ngôn từ dễ hiểu đối với người DTTS, và công bố tại cổng thông tin của Ngân hàng Thế giới (infoshop) cũng như đăng tải trên website của Dự án và website của Ủy ban nhân dân các tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số.

 

 

 

7. Kinh phí dự kiến và tổ chức

 

Kinh phí thực hiện các EMDP của mỗi tỉnh sẽ được tính trên cơ sở các hoạt động cụ thể được đề xuất trong EMDP. Kinh phí này được tính vào nguồn kinh phí thực hiện dự án. Các hoạt động dự kiến được triển khai tại mỗi tỉnh bao gồm:

 

-          Truyền thông, tham vấn cộng đồng (phối hợp với các hoạt động khác của dự án);

 

-          Tập huấn về kỹ năng tuyên truyền và nâng cao nhận thức cộng đồng;

 

-          Truyền thông về đăng ký đất đai và các giao dịch đất đai; khai thác, sử dụng thông tin đất đai;

 

-          Xây dựng các tài liệu truyền thông theo hướng dẫn của CPMU.

 

Ban quản lý dự án trung ương (CPMU) chịu trách nhiệm thực hiện Khung kế hoạch này và hướng dẫn, giám sát các PPMU triển khai EMDP tại các địa bàn triển khai dự án có đồng bào dân tộc thiểu số.

 

Một cán bộ trong CPMU sẽ giành một phần thời gian chịu trách nhiệm đầu mối về các vấn đề xã hội. Cán bộ này phải đảm bảo rằng Ban quản lý dự án cấp tỉnh sẽ đưa các biện pháp trong Khung kế hoạch này vào công việc hàng ngày của tỉnh.

 

Các khóa học đào tạo quản lý dành cho các cán bộ quản lý đất đai được tài trợ bởi dự án, cũng như các khóa học về cải thiện dịch vụ cho các cán bộ sẽ bao gồm cả nội dung định hướng tới người DTTS tập trung vào (1) những nhu cầu đặc biệt của các khách hàng với những cách biệt về ngôn ngữ, và (2) tầm quan trọng của việc tham vấn ý kiến địa phương. 

 

Ủy ban/Ban Dân tộc là thành viên của Ban chỉ đạo quốc gia và ở cấp tỉnh. Ủy ban này có tư cách pháp lý trong việc thực hiện các chính sách và chương trình về người dân tộc thiểu số, Ủy ban sẽ được mời tham vấn những vấn đề liên quan đến việc thực hiện dự án và các vấn đề về người dân tộc thiểu số.

 

8. Cơ chế khiếu nại, giải quyết tranh chấp

 

Trong trường hợp có tranh chấp đất đai mà một trong hai Bên không đồng ý hòa giải ở Ủy ban nhân dân xã, phường hay thị trấn có thể được giải quyết tại tòa án nhân dân nơi các bên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

 

Một cơ chế giải quyết mâu thuẫn trên cơ sở hòa giải đã được xác định trong khung pháp lý quốc gia và được đưa vào sổ tay hướng dẫn thực hiện Dự án.

 

Để hỗ trợ cho cơ chế này, Dự án PILGALD sẽ tiếp nhận những ý kiến đóng góp từ cộng đồng người DTTS trong khu vực dự án về việc thực hiện dự án. Các cán bộ địa phương sẽ được thông báo qua việc đào tạo dự án về khả năng và các phương thức thực tế này. Họ có thể liên lạc với CPMU để báo cáo bất kỳ trường hợp nào về hoạt động được Dự án PILGALD tài trợ mà theo họ đã ảnh hưởng xấu đến cộng đồng.

 

9. Tổ chức giám sát

 

Hệ thống giám sát Dự án đã được thiết kế để khảo sát mức độ chấp nhận/hài lòng của cộng đồng đối với các dịch vụ quản lý đất đai ở các huyện của các tỉnh tham gia dự án.

 

Tất cả các chỉ tiêu kết quả chính liên quan tới các biện pháp trong Khung kế hoạch này cũng sẽ được tách ra và so sánh để báo cáo về tiến độ của dự án tại các huyện chính. Những chỉ tiêu này bao gồm (ngoài những nội dung khác) tính sẵn sàng của các dịch vụ tại các chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai, nâng cao nhận thức cộng đồng và ngân sách đào tạo cán bộ địa phương, các buổi họp nhóm tư vấn cấp huyện.

 

Các chỉ tiêu giám sát sẽ phải được cung cấp cho Ban dân tộc và các nhóm tư vấn cấp huyện.

 

Các báo cáo định kỳ của PPMU (quý, tháng) sẽ bao gồm báo cáo về tình hình triển khai Khuôn khổ hành động Khung dân tộc thiểu số tại tỉnh, trong đó nêu rõ các hoạt động đã được triển khai liên quan đến Khung dân tộc thiểu số tại các địa bàn của dự án; các ý kiến phản hồi của người dân tộc thiểu số liên quan đến các hoạt động của dự án tại tỉnh và kế hoạch triển khai các hoạt động tiếp theo, báo cáo về CPMU.

 

 Giám sát nội bộ của Bộ Tài nguyên và Môi trường và đoàn giám sát của Ngân hàng thế giới sẽ được thực hiện tại các huyện có nhiều DTTS với tần số cao hơn bình thường. Tương tự, sẽ có sự giám sát ở các xã có cộng đồng người DTTS riêng biệt sẽ có tần suất cao hơn bình thường. Vào năm thứ tư, Dự án sẽ tiến hành một đánh giá tác động định tính liên quan đến các rủi ro đã xác định./.

 


 

Phụ lục 01: Bảng tổng hợp về các dân tộc thiệu số tại địa bàn triển khai dự án trong giai đoạn 01

 

 

  1.  
  1. Tỉnh An Giang

 

 

 

STT

 

Huyện

 

Dân tộc Khmer

 

Số hộ

 

Nhân khẩu

1

Tri Tôn

10.355

42.333

2

Tịnh Biên

8.007

35.820

 

 

 

 

  1.  
  1. Tỉnh Quảng Bình

 

 

 

STT

 

Huyện

 

Dân tộc Chứt

 

DT Bru-Vân Kiều

 

Dân tộc khác

 

Số hộ

 

Nhân khẩu

 

Số hộ

 

Nhân khẩu

 

Số hộ

 

Nhân khẩu

1

Huyện Minh Hóa

1.145

4.928

1.028

5.102

17

65

2

Huyện Tuyên Hóa

145

617

0

4

3

20

3

Huyện Bố Trạch

63

303

611

2.889

7

27

4

Huyện Quảng Ninh

-

-

801

3.373

-

-

5

Huyện Lệ Thủy

-

-

1.200

5.057

-

-

 

 

 

 

 

3. Tỉnh Vĩnh Long

 

STT

 

Huyện

 

Khmer

 

Số hộ

 

Nhân khẩu

1

TX Bình Minh

1495

5772

2

Tam Bình

1594

5309

3

Trà Ôn

2234

8524

4

Vũng Liêm

488

2064

 

 

 

 

 

4. Tỉnh Ninh Bình

 

STT

 

Huyện

 

Mường

 

Dân tộc khác

 

Số hộ

 

Nhân khẩu

 

Số hộ

 

Nhân khẩu

1

Thị xã Tam Điệp

155

388

6

15

2

Huyện Nho Quan (phân bố tại 3 xã Thạch Bình Kỳ Phú và Cúc Phương)

-

23.980

-

-

 

 

 

5. Tỉnh Hà Tĩnh

 

STT

 

Huyện

Dân tộc Chứt

Lào, Mường, Mán

 

Số hộ

 

Nhân khẩu

 

Số hộ

 

Nhân khẩu

1

Hương Khê

34

137

-

-

2

Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang

-

-

458

1696

 

 

 

6. Khánh Hòa

 

STT

 

Huyện

 

Raglay

 

E đê

 

Hoa

 

Mường

 

Tày

 

Dân tộc khác

 

Số hộ

 

NK

 

Số hộ

 

NK

 

Số hộ

 

NK

 

Số hộ

 

NK

 

Số hộ

 

NK

 

Số hộ

 

NK

1

Huyện Diên Khánh

 166

659

-

-

-

-

-

-

-

-

-

-

2

Huyện Ninh Hòa

 332

833

486

1.979

238

900

138

818

23

79

93

331

 

 


 

7. Thái Nguyên

 

 

 

STT

 

Huyện

 

Tày

 

Nùng

 

Giao

 

Sán chay

 

Sán Dìu

 

Dân Tộc khác

 

Số hộ

 

Số khẩu

 

Số hộ

 

Số khẩu

 

Số hộ

 

Số khẩu

 

Số hộ

 

Số khẩu

 

Số hộ

 

Số khẩu

 

Số hộ

 

Số khẩu

1

TP Thái Nguyên

4828

19.312

2151

8.603

264

1.057

198

792

1504

6.015

719

2.875

2

Huyện Định Hóa

9201

46.004

687

3.437

394

1.971

1668

8.339

9

43

217

1083

3

Huyện Phú Lương

4173

20863

1103

5516

535

2675

2303

11515

978

4888

151

753

4

Huyện Đồng Hỷ

594

2.969

3027

15134

1159

5796

446

2229

3264

16322

589

2947

5

Huyện Võ Nhai

2917

14.583

2599

12997

1815

9075

548

2741

34

170

814

4071

6

Huyện Đại Từ

3131

15.654

2521

12604

830

4152

1350

6750

654

3270

126

631

7

Huyện Phổ Yên

224