BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỔNG CỤC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI


Ngày 21 tháng 01 năm 2016     

Đánh giá xã hội cho dự án tăng cường quản trị đất đai và thông tin tài nguyên đất Việt Nam


Dự án Tăng cường Quản trị đất đai Việt Nam (VILG) sẽ bao gồm ba (03) hợp phần: (a) Hợp phần 1: Tăng cường chất lượng cung cấp dịch vụ đất đai; (b) Hợp phần 2: Xây dựng hệ thống thông tin đất đai đa mục tiêu (MPLIS); và (c) Hợp phần 3: Quản lý dự án. Những hợp phần này sẽ được thực hiện tại cả cấp trung ương và cấp địa phương. Những người hưởng lợi từ dự án sẽ là: (a) Cộng đồng, người sử dụng đất, bao gồm cả nhóm người thiệt thòi và nhóm dễ bị tổn thương, là nhóm người sẽ tăng thêm và tiếp cận tốt hơn với thông tin về đất đai và các dịch vụ về đất đai với sự tích hợp dữ liệu số; (b) Các cơ quan của chính phủ từ cấp trung ương đến địa phương có thế tiếp cận và chia sẻ dữ liệu không gian dễ dàng hơn nhằm cải thiện công tác quy hoạch và vận hành của họ; và (c) cộng đồng doanh nghiệp sẽ được cung cấp các dịch vụ hiệu quả và tăng khả năng tiếp cận với thông tin. Công tác khảo sát thực địa được diễn ra tại 6 tỉnh trên tổng số 12 tỉnh được triển khai dự án trong năm đầu tiên theo sự lựa chọn của Tổng cục quản lý đất đai. Những tỉnh này được phân bố dọc đất nước, bao gồm Thái Nguyên, Bắc Ninh, Ninh Bình, Quảng Bình, Hà Tĩnh, An Giang, Khánh Hòa và Vĩnh Long.

Nhìn chung, những người tham gia trả lời phỏng vấn đã thể hiện sự ủng hộ của mình đối với việc triển khai dự án dựa trên quan điểm riêng của họ, tùy thuộc vào vị trí việc làm hoặc sự cần thiết về thông tin đất đai đối với họ. Họ đồng ý với ba lợi ích quan trọng của dự án, bao gồm việc giảm thời gian và hiệu quả cho người sử dụng đất, cải thiện môi trường kinh doanh, và cải tiến quy trình quản lý dịch vụ công và người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân. Tuy nhiên, có một vài người tham gia phỏng vấn đến từ các tổ chức như các doanh nghiệp, công chứng viên, luật sư đã thể hiện mối quan tâm của họ tới các mặt tác động tiêu cực có thể xảy ra và các rủi ro mang đến từ dự án dựa trên kinh nghiệm của họ khi phải đối mặt với các trường hợp nhạy cảm và phức tạp liên quan đến thông tin về đất đai. Các mối quan tâm phát sinh trong nghiên cứu này bao gồm tính không đối xứng của các thông tin về đất đai; độ cẩn mật của thông tin khi sử dụng MPLIS; sự chồng chéo với các luật hiện hành và các văn bản dưới luật có liên quan; cạnh tranh không công bằng; độ chính xác và tin cậy về thông tin; trách nhiệm giải trình, trách nhiệm hình sự và bồi thường liên quan; cập nhật thông tin trong MPLIS; đổi mới không nhất quán tại các văn phòng đăng ký đất đai; khung pháp lý và các hoạt động truyền thông.

Các phần kiến nghị làm nổi bật qua các thông điệp mạnh mẽ để giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực tiềm tàng cũng như sự tối ưu hóa sử dụng dịch vụ thông tin đất đai cho những người hưởng lợi thông qua dự án VILG. Dự án cũng tăng cường sự minh bạch và trách nhiệm giải trình thông qua việc khoanh vùng trách nhiệm; đẩy mạnh sự tiếp nhận dịch vụ, đặc biệt là của Văn phòng Đăng ký đất đai (VPĐK); tạo điều kiện tiếp cận và sử dụng thông tin đất đai trực tuyến; định kỳ hỗ trợ cho các vùng sâu, vùng xa và các khu vực khó khăn; đảm bảo tính cẩn mật của các thông tin đất đai; truyền thông và nâng cao nhận thức; xây dựng năng lực truyền thông tốt hơn cho các điều phối viên địa phương và nhân sự của Văn phòng Đăng ký đất đai, cán bộ địa phương và người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân; cân nhắc các vấn đề nhạy cảm về giới tính; cân nhắc đến sự nhạy cảm về nhóm dân tộc thiểu số (DTTS). Việc phối hợp với các dự án hiện tại về đất đai liên quan là một hoạt động quan trọng như là người quản lý và các tổ chức sử dụng đất trên địa bàn tỉnh đã tiến hành khảo sát nhằm rà soát và sự hiệp lực với dự án hiện tại ở cấp trung ương và cấp địa phương có liên quan đến các hoạt động của dự án VILG nhằm tiết kiệm nguồn tài nguyên và phát huy sức mạnh tổng hợp. Thêm vào đó, sự cần thiết để xây dựng tính hợp pháp và hiệu quả của cơ chế khiếu nại thông qua việc tăng cường các nguồn thông tin, bao gồm cả các thông tin từ dưới lên và từ trên xuống để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm dễ bị tổn thương tham gia vào cơ chế phản hồi nhằm hạn chế cản trở họ tham gia dự án và các lợi ích của họ, đồng thời tối đa hóa các tác động tích cực và sự hài lòng cho những người hưởng lợi từ dự án. Cơ chế khiếu nại cần đáp ứng được các yêu cầu của từng nhóm người DTTS cụ thể trong các thuật ngữ về ngôn ngữ và các chuẩn mực văn hóa về khiếu nại. Liên quan đến hệ thống đánh giá và giám sát (M&E), việc tiếp cận cân bằng nhằm thúc đẩy các kênh phổ biến thông tin, với sự giám sát cẩn trọng của việc tiếp cận và sử dụng internet của Văn phòng đăng ký đất đai giữa những người sử dụng đất có mục tiêu, là hoạt động quan trọng nhằm đảm bảo rằng các lợi ích được cung cấp từ dự án VILG được phân bố một cách công bằng.

Sự sắp xếp đánh giá M&E cần bao gồm các thông số liên quan đến sự tiếp cận của những nhóm DTTS để cho phép phân tích tách rời theo giới, tính cách sắc tộc và tình trạng nghèo/cận nghèo.  Khảo sát sự thỏa mãn của cộng đồng cần được lập kế hoạch thích hợp về thời gian trong suốt quá trình thực hiện để nắm bắt rõ các khó khăn mới nổi và có những điều chỉnh kịp thời để tránh sự loại trừ nhóm dễ bị tổn thương ra khỏi lợi ích của dự án. Cuối cùng nhưng không kém quan trọng, công tác đánh giá định kỳ tính hiệu quả và hiệu lực của các chiến lược truyền thông và tài liệu các bài học kinh nghiệm cho dự án cần được rà soát và nhân rộng.

Dự án sẽ tập trung vào việc đẩy mạnh khung thể chế và xây dựng, vận hành hệ thống MPLIS trên nền của dữ liệu hiện có nhằm phát triển kinh tế - xã hội và quản trị đất đai tốt hơn. Không có hạng mục công trình xây dựng nào được đề xuất trong dự án này do đó không xảy ra vấn đề thu hồi đất. Đồng thời, tác động do hạn chế tiếp cận và khai thác tài nguyên cũng không xảy ra. Chính sách hoạt động OP4.12 được sử dụng như biện pháp ngăn ngừa trong trường hợp nếu xảy ra việc thu hồi đất như là kết quả của việc đo đạc lại dẫn tới phát hiện ra các mảnh đất công nhưng được sử dụng bởi cá nhân hoặc hộ gia đình. Tuy nhiên, sẽ không có công cụ nào cho dự án liên quan đến chính sách hoạt động OP4.12, ngoại trừ các phần đánh giá xã hội này.

Liên quan đến Luật đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Luật, trong các trường hợp nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng những người bị thu hồi đất sẽ được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo các quy định của pháp luật. Bồi thường về đất dựa trên giá trị của thị trường tại thời điểm quyết định thu hồi đất của nhà nước. Ngoài được bồi thường về đất, những người bị thu hồi sẽ được bồi thường về tài sản trên đất. Thêm vào đó, trong từng trường hợp cụ thể, những người bị thu hồi sẽ nhận được những sự hỗ trợ khác như hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất, hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, hỗ trợ tái định cư. Người dân có quyền được tham gia vào việc xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, khu vực tái định cư, đào tạo hướng nghiệp và tìm việc. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ có trách nhiệm tiếp nhận các ý kiến góp ý của nhân dân và tổ chức tiếp thu giải trình các ý kiến trước khi phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.


I. Mô tả dự án

Dự án sẽ bao gồm ba (03) hợp phần: (a) Hợp phần 1: Tăng cường chất lượng cung cấp dịch vụ đất đai; (b) Hợp phần 2: Xây dựng hệ thống thông tin đất đai đa mục tiêu (MPLIS); và (c) Hợp phần 3: Quản lý dự án. Những hợp phần này sẽ được thực hiện tại cả cấp trung ương và cấp địa phương.

 

 

 

 

Mục tiêu của Hợp phần 1 nhằm giúp hỗ trợ thiết lập khuôn khổ thể chế cần thiết theo hướng hoàn thiện quy trình và các chuẩn dịch vụ, nâng cao năng lực cán bộ của các Văn phòng Đăng ký đất đai trên phạm vi cả nước đi đôi với việc nâng cao nhận thức cộng đồng và tăng cường theo dõi, đánh giá việc quản lý sử dụng để đảm bảo thi hành nhất quán Luật Đất đai 2013. Hợp phần 2 sẽ hỗ trợ xây dựng và thực hiện phần mềm cho hệ thống MPLIS và giải quyết các yêu cầu của Luật đất đai nhằm tạo sự minh bạch hơn trong lĩnh vực đất đai thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia, bao gồm dữ liệu không gian, dữ liệu giá đất, dữ liệu quy hoạch sử dụng đất, giải quyết khiếu nại tranh chấp đất đai và thông tin chuyên về tài nguyên đất. 

Dự án cũng sẽ tài trợ một khoản kinh phí nhất định cho công tác cập nhật khảo sát đất đai và đo vẽ bản đồ nhằm thúc đẩy sự hoàn thiện và chuẩn hóa các thông tin địa chính hiện có (ước tính khoảng 20% tổng kinh phí dự án) và kết quả của hệ thống MPLIS sẽ được liên kết và có sẵn phục vụ cho các bên liên quan và cộng đồng có quan tâm. Những hoạt động này sẽ được thực hiện với sự phối hợp chặt chẽ trong việc triển khai và lập kế hoạch liên quan đến các nỗ lực về tài chính của chính phủ và các đối tác phát triển khác. Sự gắn kết của cộng đồng sẽ hỗ trợ cho các thí điểm đổi mới và nghiên cứu cần thiết nhằm tăng cường sự quản trị. Cuối cùng, Hợp phần 3 sẽ hỗ trợ cho quản lý toàn bộ dự án, các hoạt động giám sát và đánh giá (M&E) và mục tiêu. Phụ lục 2 - Mô tả dự án sẽ cung cấp chi tiết hơn về các hợp phần và hoạt động của dự án.

Những người hưởng lợi từ dự án bao gồm: (a) cộng đồng, người sử dụng đất, bao gồm những nhóm người thiệt thòi và dễ bị tổn thương, là nhóm người sẽ tăng lên và tiếp cận tốt hơn với các thông tin về đất và các dịch vụ tốt hơn với sự tích hợp về dữ liệu số; (b) các cơ quan của chính phủ từ cấp trung ương đến địa phương có thể tiếp cận và chia sẻ dữ liệu không gian dễ hơn nhằm cải thiện công tác quy hoạch và vận hành của họ; và (c) cộng đồng doanh nghiệp sẽ được cung cấp các dịch vụ hiệu quả và tăng khả năng tiếp cận với thông tin.

II. Khung pháp lý

Các vấn đề về đất là bản chất chính trị và có thể gây tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của rất nhiều quốc gia, đặc biệt là những nước đang phát triển. “Chính sách đất đai có vai trò phê bình đối với sự phát triển bền vững, quản trị tốt, thịnh vượng và cơ hội về kinh tế cho mọi người cả ở khu vực nông thôn và thành thị, đặc biệt là những người nghèo”.

Cụ thể tại điều 53 của Hiến pháp, Điều 4 của Luật đất đai 2013 đã nêu rõ về vấn đề sở hữu đất như sau: “Đất đai thuộc sở hữu của toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này”. Theo điều này thì đất đai là thuộc sở hữu của toàn dân, nhà nước đóng vai trò là đại diện chủ sở hữu để quản lý và Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho các đối tượng sử dụng đất (người sử dụng đất) với các hình thức giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất theo các quy định của pháp luật về đất đai.

Hiến pháp, sửa đổi vào các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013 nêu rõ “Tất cả các dân tộc là bình đẳng, thống nhất, tôn trọng và giúp đỡ nhau để cùng phát triển; tất cả các hành vi phân biệt đối xử, phân biệt dân tộc; DTTS có quyền sử dụng tiếng nói và chữ viết, duy trì bản sắc của dân tộc, và duy trì phong tục, nguyên tắc và truyền thống của họ. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện thuận lợi cho người DTTS phát huy sức mạnh nội lực để bắt kịp với sự phát triển của quốc gia”.

Điều 43 Luật đất đai 2013 về “Lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” quy định “Cơ quan nhà nước lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như được quy định tại khỏan 1 và 2 của điều 42 của Luật này sẽ có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất”. Việc lấy ý kiến của người dân sẽ được diễn ra thông qua công khai thông tin về nội dung của quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, qua các hội nghị và tham vấn trực tiếp.

Nhà nước yêu cầu áp dụng chính sách kinh tế - xã hội cho từng vùng và từng dân tộc, có tính đến nhu cầu cụ thể của các nhóm DTTS. Kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam chú trọng tới DTTS. Một vài chương trình chính của DTSS, như Chương trình 135 (xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu vực nghèo, vùng xa và sâu) và Chương trình 134 (xóa nhà tạm).

Dưới đây là các tài liệu về pháp lý liên quan đến các vấn đề về đất và DTTS:

2013

Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2013 - 2015

2013

Quyết định 582/QĐ-UBDT  của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc về phê duyệt danh sách các thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi vào diện đầu tư của Chương trình 135

2012

Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg về chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo,

đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã nghèo giai đoạn 2013 – 2020

2011

Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã nghèo giai đoạn 2013-2020.

2010

Quyết định số 2331/QĐ-TTg ngày 20 tháng 12 năm 2010 về Chương trình mục tiêu quốc gia mang thông tin đến các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo năm 2011

2010

Nghị định 82/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 20 tháng 7 năm 2010 về việc dạy và học  tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số tại các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên

2009

 

 

 

 

Nghị định số 69/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13 tháng 8 năm 2009 Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 

2008

Nghị định số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính Phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo

2008

Quyết định số 74/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 9 tháng 6 năm  2008 về một số chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất và giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn vùng đồng bằng sông Cửu Long

2007

Quyết định số 112/2007/QĐ-TTg ngày 20 tháng 7 năm 2007 quy định về Chính sách hỗ trợ các dịch vụ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật thuộc Chương trình 135 giai đoạn II

2007

Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 5 tháng 3 năm 2007 quy định về chinh sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2007 – 2010

2007

Quyết định số 01/2007/QĐ-UBDT của Ủy ban dân tộc ngày 31 tháng 5 năm 2007 công nhận các xã, huyện là miền núi, vùng cao do điều chỉnh địa giới hành chính

2007

Quyết định số 05/2007/QĐ-UBDT của Ủy ban dân tộc ngày 6 tháng 9 năm 2007 về việc công nhận xã thuộc 3 khu vực và thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển

2007

Thông tư số 06/2007/TT-UBDT của Ủy ban Dân tộc ngày 20 tháng 9 năm 2007 về hướng dẫn thực hiện mức Hỗ trợ các dịch vụ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý, để nâng cao nhận thức pháp luật theo Quyết định 112/2007/QĐ-TTg

2007

Quyết định số 06/2007/QĐ- UBDT ngày 12/10/2007 của Ủy ban Dân tộc ngày 12 tháng 10 năm 2007 về việc ban hành Chiến lược truyền thông Chương trình 135 giai đoạn II

2007

Nghị định 84/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 25 tháng 5 năm 2007 quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai

2001

Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định rằng tất cả các văn bản đăng ký tài sản gia đình và quyền sử dụng đất phải có tên cả vợ và chồng

1998

Nghị định số 59/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13 tháng 8 năm 1998 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban dân tộc và miền núi

III. Mô tả hoạt động tham vấn trong khu vực dự án

3.1.    Phương pháp tham vấn

Một nhóm nghiên cứu sẽ có 3 người, bao gồm 1 Trưởng nhóm và 2 thành viên sẽ được huy động để tham gia thực hiện. Một số công cụ nghiên cứu định tính thông thường được sử dụng, bao gồm cả các cuộc thảo luận nhóm tập trung, các cuộc phỏng vấn sâu, ghi chép, chụp ảnh và quan sát không tham gia.

Thảo luận nhóm tập trung: mỗi nhóm thảo luận sẽ bao gồm từ 6 – 8 thành viên đã được lựa chọn và mời tham gia bởi một hướng dẫn viêc địa phương theo yêu cầu của nhóm nghiên cứu. Dữ liệu phân tách về giới sẽ được chú ý thông qua việc thiết lập nhóm nhạy cảm thảo luận tập trung. Những hướng dẫn địa phương là những người được lựa chọn tại các nơi cư trú (tổ trưởng dân phố) là những người rất hiểu về địa phương mình. Để hiểu được các tác động khác nhau và phản ứng của người dân đối với dự án, một nhóm tham gia phỏng vấn được lựa chọn, bao gồm những người quản lý về đất đai, các tổ chức sử dụng đất và các hộ gia đình sử dụng đất, trong đó có người nghèo/cận nghèo và đại diện của nhóm DTTS.

 

 

 

 

Phỏng vấn sâu: Nhóm nghiên cứu dự kiến sẽ tiến hành nghiên cứu sâu theo một vài thông tin. Việc cung cấp thông tin cho các nghiên cứu sâu này sẽ được lựa chọn từ nhóm thảo luận tập trung (nghiên cứu viên có thể tìm ra những người tham gia phỏng vấn có những thông tin đáng chú ý để cung cấp trong cuộc phỏng vấn sâu). Đồng thời, những người tham gia phỏng vấn có thể được đề xuất trực tiếp bởi những lãnh đạo địa phương sau khi nghiên cứu viên giải thích đầy đủ các mục tiêu của cuộc đánh giá.  

Kiểm tra chéo:  Một vài cuộc phỏng vấn mở rộng với cán bộ địa phương và cán bộ quản lý đất đai sẽ được bổ sung theo một thuật ngữ kỹ thuật gọi là “kiểm tra chéo” để hợp thức hóa các thông tin thu thập được từ những người dân/công nhân địa phương. Đây chỉ là nguồn thông tin bổ sung và không được coi là phân nhóm được hợp thức hóa. Đồng thời, ở đây có một vài vấn đề phát sinh sau này nhưng không hiểu tại sao được đưa ra từ vị trí công tác của họ. Trong các trường hợp này, các nhóm phỏng vấn mở rộng sẽ giúp làm sáng tỏ hoặc bổ sung những gì người dân địa phương đã nêu. Những thông tin này nhằm xác nhận và trong một vài trường hợp, sẽ bổ sung cung cấp thông tin từ người dân địa phương.

3.2. Lựa chọn khu vực và thông tin người trả lời

Thông tin về người trả lời:

Hoạt động khảo sát thực địa được tiến hành tại tám (08) tỉnh trên tổng số 12 tỉnh triển khai dự án trong nằm đầu tiên được lựa chọn bởi Tổng cục Quản lý đất đai. Những tỉnh này được phân bố trải dài trên cả nước, bao gồm Thái Nguyên, Bắc Ninh, Ninh Bình, Quảng Bình, Hà Tĩnh và An Giang. Trong 08 tỉnh, nhóm người DTTS có mặt tại các tỉnh Thái Nguyên, Ninh Bình, Quảng Bình, Hà Tĩnh, An Giang, Khánh Hòa và Vĩnh Long. Người Mường ở Ninh Bình được cho thấy có sự đồng hóa rất cao với nhóm người Kinh (nhóm người đa số), do đó, kế hoạch phát triển dân tộc thiểu số không phải thực hiện tại tỉnh Ninh Bình. Với mỗi tỉnh nghiên cứu, 02 huyện sẽ được lựa chọn và tại mỗi huyện 02 xã sẽ được lựa chọn để tiến hành tham vấn.

Tại cấp tỉnh, huyện và xã, nhóm nghiên cứu sẽ tổ chức các buổi tham vấn và nhóm thảo luận với các nhà quản lý đất đai khác nhau với các tổ chức sử dụng đất. Tại mỗi tỉnh, nhóm nghiên cứu sẽ tổ chức tám (08) buổi họp và nhóm thảo luận. Nhìn chung, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành 60 buổi họp và nhóm thảo luận với khoảng 250 người tham gia. Các nhóm người tham gia bao gồm:

·       Cán bộ làm công tác Quản lý đất đai: là những cán bộ của Sở TNMT, Phòng TNMT và cán bộ Xã (lãnh đạo của Xã, cán bộ địa chính và lãnh đạo các phòng ban của Xã). Họ trực tiếp hoặc có thể gián tiếp tham gia vào các hoạt động quản lý đất đai.

·       Đại diện của các cơ quan liên quan: bao gồm các đại diện đến từ Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Tư pháp, Chi cụ Thuế, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu Chiến binh, Ủy ban Dân tộc, Đoàn thanh niên.

·       Tổ chức kinh tế và các tổ chức khác: bao gồm các tổ chức sử dụng đất, các Ngân hàng, Công ty Luật, Văn phòng công chứng và Công ty Bất động sản.

·       Cộng đồng: bao gồm nhóm người không nghèo, người nghèo và người DTTS trong khu vực nghiên cứu. Nhóm người DTTS bao gồm người Tày, Nùng tại Thái Nguyên, người Mường tại Ninh Bình, Bru Vân Kiều và người Chứt tại  Quảng Bình, người Chứt tại Hà Tĩnh, người Khmer tại An Giang và Vĩnh Long. Thường rất nhiều người phỏng vấn là người DTTS là người nghèo hoặc không nghèo, là những người sống tại các khu vực khó khăn và điều kiện giáo dục nghèo nàn.

Dưới đây là bảng chia những người tham gia phỏng vấn theo giới tính, giá trị tài sản, nơi cư trú và dân tộc:

 

 

 

 

 

Các bên liên quan

 

 

 

 

Tổ chức

 

 

 

 

Cộng đồng

 

 

 

 

Khu vực

Tổng

 

 

 

 

Quản lý về đất

 

 

 

 

Đại diện từ các tổ chức kinh tế và các tổ chức khác

 

 

 

 

Đại diện của các cơ quan liên quan

 

 

 

 

Tổng

 

 

 

 

Nam giới

 

 

 

 

Nữ giới

 

 

 

 

Kinh

 

 

 

 

DTTS

 

 

 

 

Người nghèo

 

 

 

 

Thái Nguyên

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Người trả lời của tỉnh

14

06

03

05

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

xã Vinh Sơn, thành phố Sông Công

02

02

 

 

08

05

03

06

0

 

 

 

 

 

xã Động Đạt, huyện Phú Lương

02

02

 

 

10

07

03

0

10

 

 

 

 

 

Bắc Ninh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Người trả lời của tỉnh

21

 

 

 

 

8

11

02

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh

05

 

 

05

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

xã Trung Nghĩa, huyện Yên Phong

4

4

 

 

05

01

04

05

 

 

 

 

 

 

Ninh Bình

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Người trả lời của tỉnh

14

6

01

7

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

phường Phúc Thanh,  thị trấn Tam Điệp

5

5

 

 

 

2

6

6

 

 

 

 

 

 

xã Thạch Bình, huyện Nho Quan

6

6

 

 

7

3

5

5

2

 

 

 

 

 

Hà Tĩnh

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Người trả lời của tỉnh

 

8

8

7

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

phường Thanh Linh, thành phố Hà Tĩnh

 

8

 

 

 

25

30

55

 

 

 

 

 

 

xã Hương Liên, huyện Hương Khê

 

6

 

 

 

27

26

46

7

 

 

 

 

 

Quảng Bình

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Người trả lời của tỉnh

15

05

02

08

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

phường Phú Hải, thành phố Đồng Hới

10

10

 

 

07

03

04

07

 

 

 

 

 

 

xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa

06

02

 

04

20

12

08

 

20

20

 

 

 

 

An Giang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Người trả lời của tỉnh

25

09

11

05

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

xã Mỹ Khánh, thành phố Long Xuyên

12

12

 

 

06

01

05

 

 

06

 

 

 

 

xã An Cư, huyện Tịnh Biên

09

02

 

07

05

04

01

 

01

 

 

 

 

 

Khánh Hòa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Người trả lời của tỉnh

 

03

03

05

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Xã Suối Tiên huyện Diên Khánh

02

02

 

 

08

05

03

04

04

03

 

 

 

 

Xã Ninh Sim, thị xã Ninh Hòa

02

02

 

 

08

05

03

03

05

04

 

 

 

 

Vĩnh Long