XÃ VŨ BÌNH


Ngày 16 tháng 05 năm 2018     

Xã Vũ Bình nằm ở phía nam của huyện Kiến Xương, cách trung tâm huyện 12km, cách thành phố Thái Bình 15km. Phía Bắc giáp xã Vũ Công; phía Nam giáp sông Hồng; phía Đông giáp xã Minh Tân; phía Tây giáp xã Vũ Hoà và xã Vũ Vân huyện Vũ Thư.

Xã Vũ Bình có diện tích tự nhiên 420,83 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp 256,8ha dân số 4936 người, 1543 hộ. Toàn xã có 6 thôn gồm: Mộ Đạo 1, Mộ Đạo 2, Mộ Đạo 3, Nguyệt Lâm 1, Nguyệt Lâm 2, Nguyệt Lâm 3.

Đảng bộ Vũ Bình có 179 đảng viên sinh hoạt tại 9 chi bộ, trong đó 6 chi bộ thôn, 3 chi bộ trường học,

Lãnh đạo xã Vũ Bình

 

Họ và tên

 

Chức vụ

 

Điện thoại

Đồng chí Phan Văn Diệp

Bí thư Đảng uỷ, kiêm chủ tịch HĐND thị trấn

 

Đồng chí Phan Tâm Lý

Phó bí thư Đảng uỷ

 

Đồng chí Nguyễn Văn Bảy

Phó chủ tịch HĐND xã

 

Đồng chí  Bùi Văn Hiển

Chủ tịch Ủy ban nhân dân

02273.822202

Đồng chí Phan Tiến Chinh

Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã

 

Đồng chí Nguyễn Quang Tạo

Ủy viên BTV, Chủ nhiệm HTX SXKD DV NN

 

 

Tóm tắt lịch sử phát triển và truyền thống của Đảng bộ và nhân dân Vũ Bình

 

 

            Theo các tài liệu khảo cứu lịch sử văn hóa thì xã Vũ Bình đã hình thành cách đây khoảng một nghìn năm. Trải qua nhiều biến cố thăng trầm của thời gian và các sự kiện lịch sử Vũ Bình vẫn tồn tại, phát triển không ngừng. Năm 1802 Vũ Bình thuộc tổng Lịch Bài, huyện Bố, phủ Kiến Xương. Năm Minh Mạng thứ XII (1831) Huyện Bố đổi thành huyện Vũ Tiên, phủ Kiến Xương tỉnh Nam Định. Ngày 21/3/1890 thực dân Pháp cắt huyện Vũ Tiên và một số huyện khác thành lập tỉnh Thái Bình. Năm 1946, làng Nguyệt Lâm được tách ra từ làng Minh Giám. Năm 1947 thành lập đại xã Tân Dân gồm 6 thôn: Mộ Đạo, Nguyệt Lâm, Trà Vi, Lịch Bài, Thái Sa, Văn Môn. Năm 1949 Tân Dân được tách ra làm 2 xã Tân Dân và Tân Bình: Tân Dân gồm các thôn: Lịch Bài, Xuân Vũ, Thái Sa, Văn Môn. Tân Bình gồm các thôn: Mộ Đạo, Nguyệt Lâm, Trà Vy, Thái Công. Tháng 7 năm 1955 Tân Bình lại tách ra làm 2 xã Vũ Công và Vũ Bình. Như vậy, Vũ Bình chính thức có từ tháng 7 năm 1955. Tháng 10 năm 1969, Vũ Bình một lần nữa tách khỏi Vũ Tiên là một trong 13 xã sát nhập vào huyện Kiến Xương cho tới ngày nay. Xã Vũ Bình có 6 thôn chia đều cho 2 làng Làng Mộ Đạo và Làng Nguyệt Lâm, có 48 dòng họ. Tôn giáo đại đa nhân dân số theo đạo Phật. 

 

            Trong các cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm và chống áp bức cường quyền ở quê hương Vũ Bình đã lưu danh 2 vị tướng quân trẻ tuổi đó là: Thủy Tề Long Vương Nguyễn Hải và thủ lĩnh áo vải Phan Bá Vành. Đền thờ của 2 ông đã được Nhà nước công nhận di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia. Quyết định số 1241 ngày 20/10/1990 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa – thông tin – thể thao và du lịch (Chung cho cả hai Di tích).

Tiếp nối truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của nghĩa quân Phan Bá Vành, trước tháng 8/1945, tại Mộ Đạo đã sớm có người được giác ngộ cách mạng và tham gia vào các phong trào đấu tranh do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

 

Đầu năm 1945, phong trào cách mạng có bước phát triển mới, các tổ chức của Mặt trận Việt Minh ngày càng lan rộng đến các vùng quê trong cả nước. Tại Mộ Đạo, dưới sự chỉ đạo của cán bộ Việt Minh, một tiểu đội tự vệ được thành lập do ông Trần Giáp làm tiểu đội trưởng, ông Đào Nguyện làm tiểu đội phó. Đội tự vệ này đã chọn Đình làm nơi luyện tập quân sự, họp bàn kế hoạch tham gia vào các phong trào đấu tranh đánh đuổi Pháp - Nhật. Đình làng Mộ Đạo cũng là nơi thành lập và hội họp của các tổ chức: phụ nữ cứu quốc, thanh niên cứu quốc…Cách mạng tháng tám thành công, ngày 22/8/1945, dưới sự lãnh đạo của lực lượng Việt Minh, nhân dân làng Mộ Đạo đã tập trung tại Đình làng để đi dự mít tinh tại xưởng đay Thái Hạc. Sau đó tập trung về Đình để mít tinh, tuyên bố xóa bỏ chính quyền cũ, đồng thời bầu chính quyền lâm thời làng Mộ Đạo, bầu ông Bùi Đĩnh làm chủ tịch, ông Nguyễn Điều làm phó chủ tịch.                                         

 

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, và đế quốc Mỹ cùng với chiến đấu bảo vệ quê hương cán bộ và nhân dân Vũ Bình đã tiễn đưa hàng ngàn người con lên đường nhập ngũ chiến đấu tren khắp các chiến trường. Kết thúc cuộc kháng chiến Vũ Bình có121 người anh dũng hy sinh là liệt sỹ, 53 người là thương binh, 37 người là bệnh binh, 123 người bị nhiễm chất độc da cam đi ô xin. Với những đóng góp to lớn của cán bộ và nhân dân Vũ Bình, Đảng, nhà nước đã tặng thưởng nhiều huân huy chương các loại cho cán bộ và nhân dân trong xã, 18 bà mẹ được phong tặng, truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt nam anh hùng”.

Trong công cuộc đổi mới xây dựng quê hương đất nước, Đảng bộ và nhân dân Vũ Bình đã nỗ lực vượt qua mọi khó khăn thách thức, nắm bắt  mọi thời cơ vận hội đi lên xây dựng quê hương ngày một phát triển toàn diện trên mọi lĩnh vực. Tình hình chính trị ổn định, kinh tế có mức tăng trưởng khá, đạt bình quân 6,55%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, lĩnh vực văn hóa xã hội phát triển mạnh mẽ cả 3 ngành học và trạm y tế đều đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ nghèo giảm  từ 10,5% năm 2010 xuống còn 1,97% năm 2016, tình hình an ninh trật tự trên địa bàn được duy trì đảm bảo, các tai tệ nạn xã hội có chiều hướng giảm rõ rệt. Nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương thực hiện nghiêm túc đạt hiệu quả, công tác tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ hàng năm đạt chỉ tiêu trên giao.

Trong phong trào xây dựng nông thôn mới, tuy gặp nhiều khó khăn thách thức song cán bộ và Vũ Bình đã nêu cao tinh thần đoàn kết nhất trí nỗ lực thi đua phấn đấu huy động mọi nguồn lực tổng giá trị ước 50,8 tỷ đồng để hoàn thành 19 tiêu chí và đã được UBND tỉnh công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2017.

 

*) Các di tích lịch sử văn hóa và lễ hội truyền thống ở xã Vũ Bình

 

+ Di tích LSVHQG Đền Quan Mộ Đạo thờ Tướng quân Nguyễn Hải: (Lễ hội chính: 15 tháng giêng và 15 tháng 8 Âm Lịch)

Tướng quân Nguyễn Hải sinh ra tại đất Mộ Giang (Mộ Đạo ngày nay), vào năm 1072 đời Lý Thánh Tông năm thứ 14. Cha là Nguyễn Công Thành, mẹ là Hoàng Thị Kiều đều làm nghề chài lưới ven sông. Ông là người thông minh, nhanh nhẹn, sức khỏe hơn người, ông giỏi võ nghệ và đặc biệt giỏi nghề bơi lội bắt cá trên sông. Tiếng tăm của ông đến tận Đức Vua. Năm 1092 Lý Nhân Tông cho mời ông ra giúp Vua cầm quân phá giặc Tống, dẹp giặc Xiêm. Với tài chỉ huy Thủy quân thao lược, ông đã cùng quân dân nhà Lý lập nên những chiến tích huy hoàng. Khi nhà Vua mở hội ăn mừng và phong chức tước cho các tướng sỹ, ông một mực không nhận chỉ xin về đóng đồn tại quê để giữ gìn cửa biển và chăm sóc cha mẹ tuổi đã già. Ông sinh ngày 15 tháng Giêng năm 1072 và mất ngày 20 tháng 5 năm 1093 ở tuổi 21, Vua Lý Nhân Tông sắc phong ông là “Thủy Tề Long Vương” và cho xây 2 ngôi đền: đền Đông thờ cha ông (Nam Hải Đại Vương), đền Tây thờ ông tức Thủy Tề Long Vương tại vùng ven sông bãi đất Mộ Đạo. 29 sắc phong và một cốt chuyện về ông bằng chữ Hán được lưu giữ cẩn thận, ngày 20 tháng 5 năm 1989, đã được Hội đồng Khảo cứu dịch ra chữ quốc ngữ. Bên kia sông Hồng, thôn Lưu Đông xã Xuân Tân có đền An Đạo cũng thờ ông, các sắc phong có di chỉ ở 3 cỗ ngai, câu đối, văn tế tên tuổi của ông đều đồng nhất như đền thờ ở Mộ Đạo. Hàng năm dân làng 2 bên sông đều mở lễ hội vào ngày 15 tháng giêng và 20 tháng 5 âm lịch.

            + Di tích LSVHQG Đồn cả Phan Bá Vành – Thờ Thủ lĩnh tướng quân Phan Bá Vành.

(Lễ hội chính: 15/2/Âm lịch – Ngày giỗ Thủ lĩnh và nghĩa binh, nghĩa sỹ; 20/9/Âm lịch – Kỷ niệm ngày sinh Thủ lĩnh Phan Bá Vành)

 Từ thế kỷ 16 trở đi, chế độ phong kiến bắt đầu thoái hóa, vua quan lo vơ vét của dân, ăn chơi vô độ, các thế lực phong kiến tranh giành quyền lực dẫn tới đất nước bị chia cắt, tình hình chính trị, xã hội bị khủng hoảng, mâu thuẫn xã hội giữa nông dân với giai cấp địa chủ, phong kiến trở lên gay gắt, phong trào đấu tranh của nông dân chống cường quyền áp bức phong kiến bùng nổ khắp nơi, Thái Bình là nơi phong trào sôi nổi nhất. Điển hình là cuộc khởi nghĩa do Hoàng Công Chất và Phan Bá Vành lãnh đạo, vang dội nhất lịch sử lúc bấy giờ

Các cuộc khởi nghĩa nổi dậy chống triều đình phong kiến trong cả nước từ năm 1807-1810 đều bị đàn áp dữ dội, nghĩa binh, nghĩa sỹ đều phải phân tán đi khắp nơi, các phong trào khởi nghĩa tạm thời lắng xuống

Thủ lĩnh Phan Bá Vành sinh ngày 10/09/1790, là con thứ 3 của ông Phan Quang và bà Mai Thị Vẻ quê làng Minh giám huyện Vũ Đức, phủ Kiến Xương, nay là làng Nguyệt Lâm xã Vũ Bình, Huyện Kiến Xương Tỉnh Thái Bình. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, cha mất sớm nhưng Phan Bá Vành được chú ruột là ông Phan Trù cưu mang đưa về ở giúp việc chăn trâu, cắt cỏ, đêm về thì được chú cho học chữ.

Năm 1811 ông dấy binh chiêu mộ hiền tài khắp mọi nơi chuẩn bị lực lượng để làm cuộc khởi nghĩa chống lại Triều đình giành quyền sống cho nông dân và dân nghèo trong đó có gia đình và quê hương của thủ lĩnh Phan Bá Vành cùng chung cảnh ngộ ấy.

 Thời gian từ năm 1811-1821 ông và nghĩa quân hoạt động ở vùng ven sông, ven biển đánh đuổi bọn giặc “Sắng cá”, bọn “Tàu ô”, bọn cướp biển và tịch thu ruộng đất của cải của địa chủ cường hào chia cho dân nghèo, lấy lương thảo để nuôi quân và mở rộng địa bàn hoạt động. Tiếng tăm Phan Bá Vành và nghĩa quân ngày càng vang xa, nhân dân hưởng ứng ngày một đông kéo nhau về nhập nghĩa quân. Năm 1821, Thủ lĩnh Phan Bá Vành tế cờ ở Núi Voi, Kiến An - Hải Phòng và tuyên chiến nghĩa quân sẽ đánh mở đường vào kinh. Trong lúc đó trên trời xuất hiện sao chổi, nhân dân lan truyền câu ca dao

“ Trên trời có ông sao Tua

Dưới làng Minh giám có vua Bá Vành”

Chính vì vậy triều đình Minh Mệnh phải tổ chức đánh trả nghĩa quân Phan Bá Vành như với một nước đối địch. Trong các trận đánh, triều đình đã mất nhiều quân sỹ và các tướng giỏi trụ cột như Lê Mậu Cúc - một danh tướng Đất Bắc, đặc biệt là Phò mã Hoàng Triều là Thống chế Trương Phúc Đặng, một vị tướng đã lừng danh của triều đình đánh đông, dẹp bắc.

Tin thống chế Trương Phúc Đặng bại trận, vua Minh Mạng rất lo sợ, vội triệu các quan đại thần hồi triều để bàn cách đánh. Vua Minh Mạng sai Phạm Văn Lý làm Thống tướng, Binh bộ Thị lang; Nguyễn Công Trứ làm tham tán. Phó đô Thống chế Nghệ An Nguyễn Văn Hiếu làm Sơn Lam kinh lược. Đại sự Hình bộ thượng thư Hoàng Kim Xán, Binh bộ Thị lang Thân Văn Duy làm tham biện kinh lược thành cả một đoàn Quan Triều, Tướng sỹ kéo đại quân ra Bắc.

 Thủ lĩnh Phan Bá Vành lúc này vẫn đóng đồn ở Trà Lũ, quân triều đình kéo đến Sơn Nam đóng quân ở các đồn lớn vây quanh nghĩa quân. Bị bao vây, các nghĩa quân ở đồn xa phải tụ về Trà Lũ quanh Chủ tướng cùng nhau xây đồn cố thủ. Thủ lĩnh cùng các Tướng lĩnh thống nhất sẽ đánh ngay lúc quân Triều mới đến còn sơ hở, nhưng đáng tiếc vì nhiều lý do và nhiều khó khăn nên chưa thực hiện được.

Lúc này Thủ lĩnh Phan Bá Vành biết mình đã bị bao vây tứ phía, lệnh cho Nghĩa quân cùng nhân dân Trà Lũ sắm sửa mai, quốc, thúng, sọt, ai có cả vũ khí cũng mang theo và đêm đến khơi một đoạn sông chạy từ sông Cát Giang thông đến sông Ngô Đồng mở đường máu để rút quân ra Biển Đông. (Nay là con sông chạy qua huyện Xuân Trường, ngày nay có tên gọi là Cống Vành). Mờ sáng Nghĩa quân theo sông mà rút, nhưng do sông đào chưa đủ sâu, nước thủy triều xuống, nước cạn thuyền lớn không thoát được, Thủ lĩnh cùng nghĩa quân anh dũng giao chiến với quân Triều Đình suốt cả ngày hôm ấy, máu chảy đỏ cả đoạn sông. Thật không may thủ lĩnh đã bị thương nặng, quân sỹ bị phân tán, bị thương và hy sinh khá nhiều

 Sau khi bị thương thủ lĩnh cho gọi và được Cai tổng Lê Đình Tuấn là con một nghĩa quân thân tín ở Hoành Nha đưa thủ lĩnh về nhà hết sức cứu chữa trong suốt ba ngày nhưng không được. Nhận biết được khó khăn của bản than và không muốn Cai tổng Lê Đình Tuấn phải liên lụy theo và với nghĩa khí Đại trượng phu của mình, Thủ lĩnh đã lệnh Cai Tổng hãy đem mình đi mà nộp cho Triều Đình. Tuy nhiên đến địa phận đất Đồng Phù huyện Thượng Nguyên (Miền Nam đất Mỹ Lộc Nam Định  ngày nay), để giữ vững khí phách anh hùng Thủ lĩnh đã tự Tuẫn tiết và anh dũng hy sinh trước khi bị đưa đến giao nộp cho Triều Đình - Bấy giờ là năm Đinh Hợi, Minh Mệnh thứ 8 (1827). Tuy Thủ lĩnh Phan Bá Vành không mất vào ngày 15 tháng 2, nhưng vì cuộc khởi nghĩa nông dân của ông kết thúc vào ngày 15 tháng 2 năm Đinh Hợi 1827, do vậy nhân dân ta đã lấy ngày này là ngày giỗ của Ngài và cũng là ngày giỗ chung của nghĩa binh, nghĩa sỹ

Sau cuộc khởi nghĩa Phan Bá Vành, Triều Đình đã ra tay đàn áp, triệt hạ ở Trà Lũ, Minh Giám rất nặng nề. Hậu duệ của Thủ lĩnh Phan Bá Vành bị triều đình tìm mọi cách trả tù tận diệt vì vậy con cháu của Thủ lĩnh đã phải ly tán đến nhiều nơi, thay tên, đổi họ để lánh nạn, những người ở lại quê hương may mắn còn sống sót là nhờ sự che chở, đùm bọc của nhân dân trong vùng.

Cuộc khởi nghĩa do Thủ lĩnh Tướng quân Phan Bá Vành tuy chưa đi đến thành công nhưng để lại biết bao bài học lịch sử cho nhân dân ta trong đấu tranh giữ nước và bảo vệ đất nước, là minh chứng cho chân lý “Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh” và minh chứng cho “Sức mạnh của lòng dân, dân yên thì nước yên”. Cuộc khởi nghĩa đã dóng lên hồi chuông cảnh tỉnh về sự sụp đổ của chế độ Phong Kiến suy tàn thời điểm lúc bấy giờ và là bài học về trị quốc, an dân cho các chế độ về sau này.

Thủ lĩnh Phan Bá Vành mất đi cũng để lại sự tiếc nuối vô cùng và nỗi thương tâm cho toàn thể  nhân dân và mảnh đất nơi đây. Nhưng vượt lên trên hết đó là sự tự hào, cảm phục của mỗi chúng ta đối với một con người sinh ra ở mảnh đất này, một con người xuất chúng đã dám đứng lên bẻ gẫy gông cùm của cả một triều đình Phong Kiến đầy uy lực.

Cuộc khởi nghĩa nông dân của Thủ lĩnh Phan Bá Vành không thành công  nhưng cũng đã làm cho triều  đình Minh Mệnh nhiều phen  thất điên, bát đảo, phải điều binh, khiển tướng chống lại như đối với một nước đối địch. Đây rõ ràng là một hồi chuông lớn cảnh báo chế độ Phong Kiến và ngai vàng sẽ sụp đổ. Và thực tiễn đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Cách mạng tháng 8 năm 1945 đã thành công vang dội, lập lên nước Việt nam Dân chủ cộng hoà, chính quyền đã về tay của nhân dân

+ Di tích Lịch sử Văn hóa Đình Làng Mộ Đạo – xã Vũ Bình

(Lễ hội chính: Ngày 24/12/Âm lịch – Ngày giỗ thành hoàng làng)

Căn cứ vào sắc phong và bài vị thời Nguyễn hiện đang lưu giữ tại di tích, xác định Đình làng Mộ Đạo thờ hai vị thành hoàng là: Đương cảnh thành hoàng Trình quan tấu tôn thần và Đương cảnh thành hoàng Phạm tướng quân tôn thần.

Hiện nay, thần tích không còn, không có tài liệu để xác định lai lịch hành trạng của hai vị thành hoàng làng Mộ Đạo. Theo truyền ngôn :Vào khoảng thế kỉ thứ X, hai vị Trình công và Phạm công là những người đầu tiên về Mộ Đạo chiêu mộ nhân dân, khai hoang, mở đất lập làng. Sau khi hai ngài mất, dân làng suy tôn là Nhị vị thành hoàng, lập miếu thờ phụng. Lăng mộ của các ngài vẫn còn tại đồng Bến Quán, thôn Mộ Đạo 1, xã Vũ Bình, huyện Kiến Xương.

 

*) Một số hình ảnh về xã Vũ Bình

 

 

 

            Trụ sở Đảng ủy – HĐND – UBND xã Vũ Bình

 

 

 

 

 

Nhà văn hóa xã Vũ Bình

 

 

 

 

 

Lãnh đạo xã Vũ Bình đón nhận bằng công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2017

 

 

 

 

 

Lễ cắt băng khánh thành trụ sở làm việc Đảng ủy – HDND – UBND xã Vũ Bình

 

 

 

 

 

Khu di tích lịch sử văn hóa quốc gia Đồn cả Phan Bá Vành – Thờ Thủ lĩnh tướng quân Phan Bá Vành

 

 

 

 

 

Khai mạc lễ hội đền Mộ Đạo xã Vũ Bình năm 2018

 

 

 

Chùa Viên Quang Tự xã Vũ Bình

 

 

 

 

 

Trường trung học cơ sở xã Vũ Bình

 

 

Đường giao thông và sân vận động xã Vũ Bình

 

Nhà máy nước sạch xã Vũ Bình

 

Vùng nuôi thủy sản xã Vũ Bình

 


 

Tìm kiếm

 
© Bản quyền thuộc về UBND Huyện Kiến Xương
Địa chỉ: Thị trấn Thanh Nê, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
Điện thoại: (036).3821.236 Fax: (036).3511.060 E-mail: